Kiến trúc đẹp tại Hòa Bình được khách du lịch ghé thăm nhiều nhất

0
36

Hòa Bình là một tỉnh miền núi thuộc vùng Tây Bắc, Việt Nam. Tỉnh Hòa Bình có diện tích lớn thứ 29 trong 63 tỉnh thành của Việt Nam và là đơn vị hành chính Việt Nam đông thứ 49 về số dân.

KHÁM PHÁ KIẾN TRÚC VIỆT NAM

Hòa Bình là mảnh đất mà các nhà khoa học đã chứng minh có người Việt cổ sinh sống. Nơi đây đọng lại nhiều dấu ấn của một nền văn hóa rực rỡ qua việc tìm thấy 47 chiếc trống đồng cổ trong đó có trống đồng sông Đà và Miếu Môn (địa danh nay thuộc Hà Nội giáp ranh Hòa Bình) thuộc loại đẹp và cổ.

Trên địa bàn tỉnh Hòa Bình cơ bản có 7 thành phần dân tộc sinh sống. Các dân tộc vừa giữ gìn bản sắc văn hóa riêng của mình, vừa bảo tồn tính đa dạng của văn hóa các dân tộc khác trong cộng đồng.
Trên địa bàn tỉnh Hòa Bình cơ bản có 7 thành phần dân tộc sinh sống. Các dân tộc vừa giữ gìn bản sắc văn hóa riêng của mình, vừa bảo tồn tính đa dạng của văn hóa các dân tộc khác trong cộng đồng.

Người Tày Thái sinh sống trong tỉnh có nhiều nét giống nhau trong phong tục và sinh hoạt. Dân tộc Mường có nền văn học dân gian phong phú như: hát ví Mường với nhạc trống đồng, nhạc cồng, trường ca Đẻ đất đẻ nước…Dân tộc Thái có làn điệu dân ca Thái tính cộng đồng cao. Số ít người Mông trong tỉnh có múa khèn, múa ô…Sản phẩm rượu cần trong các dịp lễ tết, hội hè tiếp khách quý của người Mường, người Thái là nét văn hóa độc đáo không thể thiếu trong bản sắc của con người sinh sống trên mảnh đất miền hạ sông Đà. Tất cả những điều đó tạo nên một nét đẹp riêng, một phong cách kiến trúc Hòa Bình vô cùng đặc trưng và khác biệt.

Hoà Bình được xem là cái nôi của nền văn hoá Mường với vô vàn điều thú vị cực kỳ hấp dẫn du khách đến thăm quan các địa điểm du lịch Hòa Bình. Với vị trí địa lý thuận lợi, Hoà Bình luôn là địa điểm được nhiều người lựa chọn cho kỳ nghỉ ngắn ngày của gia đình và bạn bè.

Đền Chúa Thác Bờ

Từ bến Bình Thanh vào Thung Nai như tìm về chốn núi rừng người dân Mường, Thái, Dao… về giữa thiên nhiên với không khí trong lành. Hồ Thủy điện hòa Bình hiện lên trong cảnh lung linh thơ mộng. Cập bến Thung Nai, với những món ăn đặc sản của núi rừng Tây Bắc, thưởng thức đặc sản Cá Nướng ngay trên mặt hồ.

Theo tương truyền, Đền Bờ (xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình) thờ bà chúa Thác Bờ là Đinh Thị Vân người dân tộc Mường và một bà người dân tộc Dao bà người Dao ở Vầy Nưa lo liệu quân lương, thuyền mảng (không rõ tên). Đặt tầu đi lễ Đền Chúa Thác Bờ liên hệ 097.4177.704 với giá siêu khuyến mãi . Hai bà đã có công giúp vua Lê Lợi về quân lương, thuyền mảng vượt thác Bờ tiến quân lên M¬ường Lễ, Sơn La dẹp loạn đảng Đèo Cát Hãn. Sau khi mất, 2 bà thường hiển linh giúp dân vượt thác an toàn, phù hộ cho trăm dân trong vùng mưa thuận, gió hoà nên nhân dân đã phong 2 bà làm thánh và lập đền thờ phụng.

Lâu nay, người dân trong vùng tôn vinh hai bà là “Chúa Thác Bờ”, hàng năm vẫn mở hội đền vào ngày 7 tháng Giêng âm lịch. Tuy nhỏ nhưng vẫn cho cảm giác uy nghi bởi hòa vào tổng thể cảnh quan núi non sông nước hùng vĩ. Ðặc biệt, đền có rất nhiều tượng, với 38 pho lớn nhỏ. Trong đó có hai pho tượng đồng là tượng thờ chính…

Năm 2009, Động Thác Bờ đã được Bộ Văn hoá - thể thao và du lịch công nhận là di tích danh thắng quốc gia. Với cảnh quan tuyệt đẹp quần thể du lịch hồ Hoà Bình sẽ ngày cành thu hút đông đảo du khách tới thưởng ngoạn.
Năm 2009, Động Thác Bờ đã được Bộ Văn hoá – thể thao và du lịch công nhận là di tích danh thắng quốc gia. Với cảnh quan tuyệt đẹp quần thể du lịch hồ Hoà Bình sẽ ngày cành thu hút đông đảo du khách tới thưởng ngoạn.

Vào thăm động Thác Bờ (thuộc xã huyện Tân Lạc, tỉnh Hoà Bình) với nhiều tầng, thạch nhũ muôn hình lung linh soi bóng nước, có cây vàng, cây bạc, ô trời, lọng trời,… Đặc biệt, tạo hoá ban tặng dàn đàn đá, dàn cồng chiêng Mường với vẻ đẹp tuyệt mỹ.

Sự tích Đền Bờ hay còn gọi là sự tích bà Chúa Thác còn gắn liền với với cuộc chinh phạt đánh giặc của vua Lê Lợi vào mùa xuân năm 1431. Khi đoàn quân của vua Lê đến thác Bờ đã được sự ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân trong vùng. Trong đó có bà Đinh Thị Vân, người dân tộc Mường xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc. Bà kêu gọi nhân dân quyên góp lương thực, thực phẩm để nuôi quân và đã chèo thuyền đưa, dẫn quân đi đánh giặc.

Khi đánh thắng giặc, bà còn tổ chức lễ hội cho nhân dân mừng chiến thắng. Để tiễn quân của nhà vua về kinh đô, bà Đinh Thị Vân huy động và cùng với nhân dân đóng bè, mảng đưa nghĩa quân cùng với thuyền rồng của nhà vua vượt thác Bờ trở về. Do những công đức của Bà, sau khi bà mất, vua Lê đã truyền cho dân bản xứ lập đền thờ bà tại thác Bờ.

Ngày nay, thác Bờ và Đền Bờ đã trở thành điểm du lịch văn hóa tâm linh nổi tiếng. Lễ hội Đền Bờ xuân Tân Mão 2011 được mở từ ngày mùng 2 Tết đến hết tháng 4 âm lịch. Mỗi ngày đền Bờ đón hàng ngàn khách thập phương nô nức đến lễ Phật, lễ Chúa cầu may. Mặc dù lượng khách lớn, tầu thuyền tấp nập nhưng nhờ tăng cường công tác tuần tra kiểm soát của lực lượng CSGT đường thủy và lực lượng bảo vệ an ninh trật tự nên lễ hội Đền Bờ những ngày đầu xuân mới được diễn ra an toàn, văn minh, không có hiện tượng chèo kéo, lừa đảo đối với du khách.

Chùa Tiên

Khu Du lịch Chùa Tiên – Đầm Đa là một quần thể du lịch bao gồm nhiều hang động, đền chùa tuyệt đẹp, nằm bên kia sườn dãy núi Hương Sơn Chùa Hương. Ngoài ra quần thể danh thắng Chùa Tiên là di chỉ khảo cổ học cấp quốc gia.Đến với lễ hội Chùa Tiên, du khách sẽ được thưởng thức một di sản văn hoá vừa vật thể, vừa phi vật thể. Những chiếc kiệu như từ truyền thuyết đi ra, như từ dã sử xuất hiện, vừa lạ vừa quen, vừa cổ xưa, vừa mới mẻ, vừa bình dị vừa thiêng liêng…

Lễ hội Chùa Tiên vốn có từ thời xa xưa và nay đã trở thành nổi tiếng trong và ngoài tỉnh. Mỗi năm lễ hội lại được tổ chức quy mô hơn, đông vui hơn, du khách bốn phương tìm về nhiều hơn. Gọi là lễ hội Chùa Tiên, nhưng đây là lễ hội chung cho cả khu di tích mà địa điểm chính được đặt ở Chùa Tiên.

Vào xuân, khi vạn vật còn đang e ấp trước một năm mới thì đã là mùa trẩy hội của du lịch Chùa Tiên, Phú Lão, huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình. Lễ hội chính được tổ chức vào 3 ngày: 4 - 6 tháng Giêng và kéo dài cho đến hết tháng Tư âm lịch.
Vào xuân, khi vạn vật còn đang e ấp trước một năm mới thì đã là mùa trẩy hội của du lịch Chùa Tiên, Phú Lão, huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình. Lễ hội chính được tổ chức vào 3 ngày: 4 – 6 tháng Giêng và kéo dài cho đến hết tháng Tư âm lịch.

từ truyền thuyết đi ra, như từ dã sử xuất hiện, vừa lạ vừa quen, vừa cổ xưa, vừa mới mẻ, vừa bình dị vừa thiêng liêng. Những chiếc kiệu Thành hoàng làng là trung tâm của đám rước, được khiêng trên đôi vai của các nam thanh nữ tú dân tộc Mường. Chiếc kiệu được rước trên những đôi vai của niềm tin, của lòng thành kính và của những ước mong. Kiệu Thành hoàng có thể đi, có thể chạy, có thể bay khi có niềm tin và niền tin vào sự linh thiêng được tăng lên.

Đám rước Thành hoàng làng có từ ngàn năm trước còn tồn tại đến hôm nay, chứng tỏ một sức sống trường tồn và chứng tỏ nó hợp với nguyện vọng giữ gìn và phát triển văn hoá của dân tộc.

Cùng với đám rước, là những nghi thức tế lễ: có dâng rượu dâng hương, có đọc sắc phong của triều vua xưa phong cho các vị Thành hoàng trong khu di tích, có dâng chúc văn cầu mong thần linh ban tặng mưa thuận gió hoà, nhà nhà an khang, xóm làng thịnh vượng… Đó là những nghi thức đã trở thành truyền thống để tôn vinh các vị thần Thành hoàng làng – những người đã vì nước vì dân được tôn thờ.

Theo các sắc phong hiện còn được lưu giữ tại di tích do các triều vua phong tặng: Tự Đức thứ 6 (1853), Tự Đức thứ 33 (1880), Đồng Khánh thứ 2 (1887), Duy Tân thứ 3 (1909), Khải Định thứ 9 (1924) sắc chỉ cho xã Nhượng Lão (nay là xã Phú Lão) thì các vị thần được thờ tại cụm di tích là Tam vị Tản viên và tứ vị Thánh Nương. Các vị này đều được phong là Thượng đẳng thần.

Quần thể khu di tích Chùa Tiên xã Phú Lão bao gồm hơn 20 điểm di tích gồm nhiều loại hình như di tích lịch sử văn hoá, khảo cổ, thắng cảnh… Quần thể di tích này toạ lạc trong thung lũng của hai thôn Lão Nội và Lão Ngoại xã Phú Lão, xung quanh được che chắn bởi hai dãy núi trải dài như hai con rồng khổng lồ như đang muốn vươn mình tới trời xanh.

Đến nơi đây du khách như được trở về với cội nguồn, được thả hồn với mây trời sắc núi, được chiêm ngưỡng từng đàn cò trắng dập dờn bay lượn trên cánh đồng bát ngát màu xanh, được chiêm ngưỡng các thôn nữ thướt tha, duyên dáng trong trang phục truyền thống cổ truyền của dân tộc Mường được gặp những chàng trai Mường nồng nàn trong điệu cồng đón khách.

Và du khách sẽ được du ngoạn tại rất nhiều điểm du lịch như đền Trình, Đền Mẫu, Động Thuỷ Tiên, Thung lũng tình yêu, Động giải oan, suối vàng, suối bạc, động Cô Chín, động Ông Hoàng Bảy, Động Châu Sơn, Động Tam Toà, Đình Trung, Chùa Tiên… thăm hệ sinh thái thực vật, được bơi thuyền trên hồ đập Rập Bếch Bai Côm.

Du khách thường bắt đầu cuộc du sơn du thuỷ của mình bằng cuộc tới thăm và dâng hương tại đền Trình – đây cũng là điểm dừng chân đầu tiên tại khu di tích. Đền Trình thờ ba vị đức ông – những người có công khai phá ra vùng đất này.

Chùa Tiên Phú Lão được đánh giá là khu du lịch Hòa Bình trọng điểm của tỉnh Hoà Bình. Hiện nay đây là điểm thu hút lượng khách du lịch lớn nhất trong toàn tỉnh. Ông Phạm Quang Vinh – Chủ tịch UBND huyện Lạc Thuỷ cho biết huyện sẽ quan tâm đặc biệt tới khu di tích này. Sau khi được Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch xếp hạng cấp quốc gia, huyện sẽ tiến hành xây dựng dự án trùng tu và phát triển quy mô cho quần thể di tích để bảo tồn và phát triển du lịch. Quãng đường từ Chùa Tiên đến Chùa Hương (Mỹ Đức – Hà Nội) chỉ khoảng 5km có qua một con quèn. Trong dự án sẽ làm đường nối liền tuyến du lịch Chùa Hương – Chùa Tiên để thuận tiện cho du khách hành hương.

Tượng đài Bác Hồ

Tượng đài Bác Hồ là điểm nhấn kiến trúc Hòa Bình nằm trong hành trình thăm quan không thể bỏ qua khi đến với Nhà máy thủy điện Hòa Bình. Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh là điểm nhấn kiến trúc trên toàn bộ không gian rộng lớn của công trình thủy điện Hòa Bình, đồng thời Tượng đài Bác Hồ cũng tồn tại độc lập, là tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh, hoành tráng.

Tượng đài tọa lạc trên đỉnh đồi ông Tượng như tồn tại cùng không gian, trời đất, chứng kiến những nỗ lực, thành quả xây dựng quê hương của cán bộ và nhân dân trong tỉnh. Đứng ở khu vực tượng có thể nhìn ôm trọn không gian nhà máy thủy điện vào tầm mắt, thấy được lòng hồ mênh mang và dòng sông Đà êm ả như dải lụa êm đềm trôi nhẹ phía hạ lưu.

Tượng đài Bác Hồ được hoàn thành vào ngày 8/1/1997, sau đúng một năm khởi công, được khánh thành vào ngày kỷ niệm 67 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Toàn bộ có chiều cao 18 m, trong đó, phần thân Tượng Bác cao 13,5 m (tính từ chân dép cao su trở lên tới đỉnh đầu), bệ tượng (phần sóng nước mây trời) cao 4,5 m. Tượng đài Bác nặng khoảng 400 tấn, bằng chất liệu bê tông siêu cao, bê tông granít do Viện Vật liệu xây dựng nghiên cứu và thực hiện theo yêu cầu của công trình. Tượng đài được xây dựng trên đỉnh đồi ông Tượng có độ cao khoảng 186 m so với mặt nước biển.

Tượng đài Bác Hồ đáp ứng yêu cầu về mỹ thuật, cảnh quan, kiến trúc và giá trị văn hóa lịch nhân văn sâu sắc.
Tượng đài Bác Hồ đáp ứng yêu cầu về mỹ thuật, cảnh quan, kiến trúc và giá trị văn hóa lịch nhân văn sâu sắc.

Được gọi là đồi ông Tượng bởi nhìn từ xa, quả đồi này trông giống như một ông voi khổng lồ đang nằm phủ phục, vươn vòi xuống uống nước bên dòng sông Đà. Từ chân tượng đài lên khu vực tiền sảnh được thiết kế 79 bậc thang, tương ứng với 79 mùa xuân trong suốt cuộc đời của vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc suốt một đời phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, lo cho nước, cho dân được độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.

Tác giả của Tượng đài Bác Hồ là nhà điêu khắc Nguyễn Vũ An – giảng viên trường Đại học Kiến trúc Hà Nội. Phần kiến trúc sân tượng đài do kiến trúc sư người Nga SEREBRIANSK thực hiện.

Ý tưởng kiến trúc tại Hòa Bình, xây dựng Tượng đài Bác Hồ trên công trình thủy điện Hòa Bình xuất phát từ sự kiện Bác Hồ về thăm Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Trong chuyến thăm, Bác đã ghé thăm trường Thanh niên lao động XHCN, nay thuộc địa phận xã Yên Mông, thành phố Hòa Bình. Bác đến đang vào mùa nước lũ, nhân dân đã làm bè mảng lớn để đưa Bác qua sông. Đứng trên mảng, Bác chỉ tay xuống dòng sông Đà và nói: Sau này nước nhà thống nhất, chúng ta phải chinh phục dòng sông này để ngăn lũ, phục vụ lợi ích nhân dân. Chính vì vậy, kiến trúc tượng Bác với cánh tay chỉ xuống dòng sông như thể hiện tư tưởng lớn lao của Người được các tác giả gửi gắm vào tác phẩm Tượng đài Bác Hồ.

Thực hiện lời dạy của Người, bằng ý chí quyết tâm: “Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên” được sự giúp đỡ của Liên Xô, cả nước bằng tinh thần, ý chí, nghị lực cao độ, đồng lòng nỗ lực vượt qua biết bao khó khăn, hy sinh gian khổ, quyết tâm cải tạo, chinh phục dòng sông Đà hung dữ, xây dựng công trình thủy điện Hòa Bình bảo đảm tiến độ và chất lượng, phục vụ, chuyển hóa sức nước vô biên thành nguồn điện năng dồi dào, phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước.

Chùa Hang

Chùa Hang – Hang Chùa thuộc xã Yên Trị (Yên Thủy). Chùa Hang – Hang Chùa chứa đựng nhiều điều huyền bí của nền Văn hóa Hòa Bình, về căn hầm thời chiến trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Trong hang Chùa còn có dòng sông ngầm không bao giờ cạn giúp ruộng đồng xã Yên Trị quanh năm tươi tốt. Với ý nghĩa lịch sử to lớn, năm 1994, chùa Hang được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ VH – TT&DL) công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

Theo các nhà khảo cổ, hang Chùa là di tích khảo cổ thuộc nền Văn hóa Hòa Bình. Chùa Hang hội tụ linh khí của đất trời, trong núi Chùa Hang có trên dưới 10 hang động lớn nhỏ, trong đó có 3 hang động có suối chảy, có kho tàng nghệ thuật kiến trúc Hòa Bình cổ tinh xảo của các bậc tiền nhân được minh chứng là 2 ngôi chùa cổ và 3 bức minh văn, Hán tự được trạm khắc tinh xảo, có giá trị về mặt lịch sử, nghệ thuật, các họa tiết trên bát hương và án hương cổ trên đá có niên đại từ thế kỷ XVIII.

Chùa Hang còn có tên gọi Văn Quang Động, chùa tọa trên vách đá. Chùa Hang có 2 ngôi chùa kiến trúc cổ xây dựng theo kiểu chữ nhất.
Chùa Hang còn có tên gọi Văn Quang Động, chùa tọa trên vách đá. Chùa Hang có 2 ngôi chùa kiến trúc cổ xây dựng theo kiểu chữ nhất.

Chùa Hang được các bậc tiền nhân xây dựng từ lâu và được tôn tạo vào thời Hoàng triều Khải Định Nhâm Tuất niên (triều Khải Định năm Nhâm Tuất). Lúc bấy giờ, chùa có tên gọi Thanh Lam Tự. Thanh Lam Tự có hệ thống tượng phật cổ được tạc từ thế kỷ XVIII. Đây là di sản nghệ thuật điêu khắc tinh xảo, độc đáo của dân tộc Mường Hòa Bình. Chùa còn có một bàn cờ đá, phía trên cửa chùa khắc dòng chữ Hán trên vách đá là “Lăng tiêu tiếu bích” (ngọn núi biếc cao vút, sương phủ mờ ảo).

Điều độc đáo và ấn tượng nhất tại hang Chùa có lẽ là những vỏ ốc, vỏ sò hóa thạch xếp tầng tầng, lớp lớp lên nhau tạo thành một “quả đồi vỏ ốc” trong hang. Đây là một kiệt tác của thiên nhiên ban tặng cho mảnh đất Yên Trị. Bất cứ du khách nào khi đến thăm quan, vãn cảnh hang Chùa đều phải trầm trồ, thán phục trước vẻ đẹp huyền bí của quả đồi vỏ ốc.

Ngoài những vết tích của nền Văn hóa Hòa Bình, hang Chùa còn được biết đến là nơi lưu giữ vết tích trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (1955 – 1975). Nơi đây, trước kia là vùng núi hẻo lánh nên hang Chùa được bộ đội đào hầm rộng xuyên núi làm kho vũ khí. Sau khi kho vũ khí được chuyển đi, núi Chùa Hang được chọn làm kho bạc Nhà nước, cất giấu ngân khố quốc gia, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Kỳ lạ nhất là trong núi Chùa Hang có một dòng sông ngầm chảy qua. Không ai biết con sông ngầm này có từ lúc nào, chỉ biết rằng chưa bao giờ người dân địa phương thấy cạn nước, nguồn nước chảy ra trong vắt, mùa hè thì mát lạnh, mùa đông thì rất ấm. “Vào mùa hạn, Yên Thủy không có nước tưới cho ruộng, nhưng nguồn nước ngầm trong núi Chùa Hang vẫn chảy không ngừng, người dân thường vào hang, bơm nước để tưới cho đồng ruộng.

Vì là nguồn nước mạch tự nhiên nên nhiều gia đình sống xung quanh núi Chùa Hang vẫn qua các hang động lấy nước về sinh hoạt, nước dùng pha chè rất thơm, không bao giờ có cặn đá vôi, nấu cơm dẻo. Vì vậy, mỗi dịp lễ, Tết, người dân thường lấy nước ở đây về gói bánh.

Nhà máy thủy điện Hòa Bình

Nhà máy Thủy điện Hoà Bình được xây dựng tại hồ Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, trên dòng sông Đà thuộc miền Bắc Việt Nam. Cho đến nay đây là công trình thủy điện lớn nhất Việt Nam và Đông Nam Á. Nhà máy do Liên Xô giúp đỡ xây dựng và vận hành.

Công trình Thủy điện Hòa Bình khởi công xây dựng ngày 6/11/1979, khánh thành ngày 20/12/1994.
Công trình Thủy điện Hòa Bình khởi công xây dựng ngày 6/11/1979, khánh thành ngày 20/12/1994.

Công suất sản sinh điện năng theo thiết kế là 1.920 MW, gồm 8 tổ máy, mỗi tổ máy có công suất 240.000 KW. Sản lượng điện hàng năm là 8,16 tỷ KWh. Sau 15 năm xây dựng công trình, trong đó có 9 năm vừa quản lý vận hành vừa giám sát thi công các tổ máy, Nhà máy thủy điện Hòa Bình đã được khánh thành. Nhà máy Thủy điện Hòa Bình có nhiệm vụ chính là:

Chống lũ: Sông Đà là một trong ba phụ lưu chính của hệ thống sông Hồng chiếm 55% lượng nước. Công trình thủy điện Hòa Bình góp phần quan trọng vào việc phòng chống lũ lụt cho vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, trong đó có thủ đô Hà Nội.

Những năm gần đây, nhà máy thủy điện Hòa Bình đang ngày càng thu hút nhiều du khách đến tham quan.
Những năm gần đây, nhà máy thủy điện Hòa Bình đang ngày càng thu hút nhiều du khách đến tham quan.

Phát điện: Nhà máy thủy điện Hòa Bình là nguồn cung cấp điện chủ lực của toàn bộ hệ thống điện Việt Nam. Năm 1994 cùng với việc khánh thành nhà máy và tiến hành xây dựng đường dây 500KV Bắc – Nam từ Hòa Bình tới trạm Phú Lâm (Thành phố Hồ Chí Minh) hình thành một mạng lưới điện quốc gia. Công trình này góp phần đắc lực trong việc cung cấp nguồn điện cho miền nam và miền trung Việt Nam.

Đến đây, bạn sẽ được tận mắt chứng kiến sự tuyệt vời trong kiến trúc Hòa Bình và không khỏi trầm trồ thán phục khả năng của con người khi ngăn sông, đắp đập để làm ra một nhà máy thủy điện có quy mô hoành tráng như vậy. Và đây cũng được xem là một địa điểm du lịch hấp dẫn ở Hòa Bình mà bạn nên tới.

Bảo tàng không gian văn hóa Mường

Bảo tàng không gian văn hóa Mường nằm trên con đường Tây Tiến đi Thung Nai thuộc địa phận Phường Thái Bình, TP. Hòa Bình (Hòa Bình), đây là bảo tàng tư nhân do họa sĩ Vũ Đức Hiếu xây dựng với mục đích lưu giữ, bảo tồn những nét văn hóa truyền thống của dân tộc Mường.

Bảo tàng không gian văn hóa Mường nằm trong một thung lũng núi đá vôi nhỏ có diện tích khoảng 5ha nơi đây vốn là địa bàn sinh sống của người Mường cổ.

Bảo tàng là nơi sưu tầm, trưng bày các hiện vật cũng như tái hiện không gian văn hóa phản ánh rõ nét đời sống tinh thần, phong tục tập quán của người Mường với 4 khu nhà sàn đại diện cho 4 tầng lớp trong xã hội Mường xưa, đó là: Nhà Lang, nhà Ậu, nhà Noóc và nhà Noóc trọi cùng với đó là các hiện vật cồng, chiêng, lư, công cụ đánh bắt cá, khung dệt, cọn nước, dụng cụ săn bắn, đồ dùng sinh hoạt gia đình…

Không gian bảo tàng mang đến cho du khách có thêm những cảm nhận sâu sắc về đời sống tinh thần, phong tục tập quán, kinh tế – xã hội, văn hóa đặc trưng của người Mường qua nhiều thế kỷ.

Du khách đến đây không chỉ tham quan không gian văn hóa mà còn được cảm nhận, được hòa mình vào cuộc sống của người Mường…
Du khách đến đây không chỉ tham quan không gian văn hóa mà còn được cảm nhận, được hòa mình vào cuộc sống của người Mường…

Bảo tàng có trung tâm cư trú nghệ sỹ Muong studio nơi trao đổi, giao lưu, sáng tác và triển lãm của các nghệ sỹ trong nước và quốc tế. Tại đây thường xuyên diễn ra các hoạt động nghệ thuật như hội họa, điêu khắc hay sắp đặt ….khách tham quan có thể trực tiếp trao đổi với nghệ sỹ hoặc cảm thụ các loại hình nghệ thuật thông qua các hoạt động này.

Bảo tàng có một thư viện với hơn năm nghìn đầu sách, với nhiều thể loại khác nhau như Văn học, Lịch sử, Khoa học kỹ thuật…Đặc biệt là sách về Văn hóa dân tộc và Văn hóa Mường. Đáp ứng nhu cầu khách tham quan học tập, các nhà nghiên cứu, học sinh, sinh viên.

Bảo tàng được triển khai xây dựng và phát triển theo quan niệm mới phù hợp với xu thế phát triển chung của Bảo tàng hiện nay.
Bảo tàng được triển khai xây dựng và phát triển theo quan niệm mới phù hợp với xu thế phát triển chung của Bảo tàng hiện nay.

Đến nay Bảo tàng “Không gian Văn hóa Mường” đã sưu tầm và lưu giữ được hơn 3000 hiện vật. Có thể nói Bảo tàng “Không gian Văn hoá Mường” là một trung tâm trưng bày và lưu giữ quý giá về dân tộc Mường ở Hoà Bình nói riêng và ở Việt Nam nói chung. Nơi đây không chỉ là là nơi để thăm quan, giải trí mà còn là nơi để tìm hiểu, nghiên cứu về giá trị Văn hoá truyền thông của dân tộc Muờng.

Khách thăm quan đến đây không chỉ được nhìn, ngắm, xem mà còn thực sự hoà mình vào cuộc sống hàng ngày của người dân Mường như làm nương rẫy, giã gạo, dệt vải, quay sợi, thưởng thức các món ăn dân tộc, hoà mình vào không khí âm nhạc lễ hội, các trò chơi dân gian của người Mường.

Lấy “Không gian Văn hoá Mường” làm trung tâm nên cách bày trí đơn giản, gần gũi không cầu kì, không trưng bày trong tủ kính. Nhưng tất cả các chi tiết dù nhỏ nhất ( hàng rào, đường đi, sắp đặt đồ đạc, bàn thờ thổ công…) đều tái hiện lại những nét đặc trưng cơ bản của xã hội Mường về đời sống xã hội, kinh tế, phong tục tập quán của dân tộc Mường – một xã hội Mường thu nhỏ. Vì vậy từ nhân dân các miền trong cả nước, học sinh, sinh viên, cán bộ nghiên cứu… đến khách nước ngoài đều tìm thấy sự hấp dẫn ở đây.

Nhà thờ Giáo xứ Hòa Bình

Giáo xứ Hòa Bình nằm trên địa bàn 5 huyện và 1 thành phố: Kỳ Sơn, Cao Phong, Tân Lạc, Mai Châu, Đà Bắc và Thành Phố Hòa Bình.

Giáo xứ Hòa Bình nằm trên quốc lộ số 6, Hà Nội đi Hòa Bình – Sơn La- Điện Biên và Lai Châu. Giáo xứ Hòa Bình nằm trên địa bàn 5 huyện và 1 thành phố: Kỳ Sơn, Cao Phong, Tân Lạc, Mai Châu, Đà Bắc và Thành Phố Hòa Bình.

Năm 1925: Hạt giống Tin Mừng đầu tiên được gieo vào mảnh đất Hòa Bình, gồm một số giáo dân từ giáo xứ Hà Thao, huyện Phú Xuyên, Hà Nội lên lập ngư nghiệp trên Sông Đà và định cư tại đây.
Năm 1925: Hạt giống Tin Mừng đầu tiên được gieo vào mảnh đất Hòa Bình, gồm một số giáo dân từ giáo xứ Hà Thao, huyện Phú Xuyên, Hà Nội lên lập ngư nghiệp trên Sông Đà và định cư tại đây.

Sau 15 năm giáo xứ Hòa Bình nảy mầm và phát triển (1930 –1945) hạt giống đức tin được nở rộ từ vài ba chục tín hữu nay đã lên tới bốn năm trăm nhưng cuộc chiến tranh Điện Biên Phủ bắt đầu 1945 thì giáo dân và các giáo họ cũng phải lao đao thử thách về đức tin vì tất cả các họ đạo và giáo dân đều nằm trong chiến sự dọc quốc lộ số 6. Vì thế, giáo dân người dân tộc Mường phải sơ tán vào các huyện vùng sâu: Kim Bội, Lạc Thủy; còn những người giáo dân là người Kinh thì trở về nguyên quán của mình.

Blog’s Nguyễn Kiều Việt Như, tổng hợp