Kiến trúc đẹp tại Vĩnh Long được khách du lịch ghé thăm nhiều nhất

0
74

Vĩnh Long là một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam. Vĩnh trong vĩnh viễn, vĩnh hằng, nghĩa là “mãi mãi”; Long trong long trọng, nghĩa là “thịnh vượng, giàu có”. Tên Vĩnh Long thể hiện mong muốn nơi đây luôn được thịnh vượng. Tuy nhiên do không hiểu nghĩa, Vĩnh Long bị một bộ phận giới trẻ gọi là “Vĩnh Dragon”.

KHÁM PHÁ KIẾN TRÚC VIỆT NAM

Nằm ngay trung tâm khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, nhắc đến Vĩnh Long, hẳn bất kỳ ai cũng có thể liên tưởng đến một vùng sông ngòi kênh rạch chằng chịt, những cánh đồng xanh mướt đậm chất sông nước miệt vườn. Du lịch Vĩnh Long bạn sẽ được tận hưởng cảm giác yên bình, thoải mái khi rảo bước qua các khu vườn cây ăn trái trĩu quả. Ngoài tham quan các vườn cây ăn trái, du khách còn có thể đến thăm các làng nghề truyền thống nổi tiếng với các sản phẩm đã có mặt trên thế giới như gốm sứ, dệt chiếu, đan, gạch ngói…

Nhà thờ chính tòa Vĩnh Long hiện là nhà thờ có sức chứa lớn nhất Việt Nam.
Nhà thờ chính tòa Vĩnh Long hiện là nhà thờ có sức chứa lớn nhất Việt Nam.

Vĩnh Long không chỉ được thiên nhiên ưu đãi với những sản vật như cây trái, cá tôm mà nơi đây còn có cho những cảnh đẹp khiến lòng người say đắm. Ngoài ra, kiến trúc Vĩnh Long cũng vô cùng phong phú…khi đến đây quý khách vừa chiêm ngưỡng những công trình kiến trúc cổ xưa, được hiểu thêm về văn hóa, lịch sử dân tộc Việt Nam và tỏ lòng thành kính, biết ơn đối với các bậc tiền nhân.

Đình Long Thanh

Đình Long Thanh, hiệu là Long Thanh Miếu Vũ hiện tọa lạc bên bờ sông Long Hồ, thuộc khóm 4, phường 5, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (Việt Nam); cách trung tâm thành phố Vĩnh Long khoảng 3 km. Ngôi đình này đã được xếp hạng di tích lịch sử-Văn hóa cấp quốc gia ngày 25 tháng 3 năm 1991.

Sau khi người của năm họ là Mai, Hồ, Mạc, Võ, Đoàn và nhiều lưu dân khác đến vùng này khai phá, rồi thành lập thôn Long Thanh, thì đình Long Thanh được dựng lên để thờ Thần hoàng làng. Lúc bấy giờ vào khoảng năm 1754. Ban đầu, ngôi đình được cất bằng cây lá tại vàm Bùng Binh, thuộc ấp Hưng Long.

Năm 1913, nhờ sự đóng góp to lớn của bà Nguyễn Thị Mai, đình Long Thanh được tái thiết toàn bộ bằng gạch ngói, và chính thức đổi hiệu là Long Thanh Miếu Vũ.
Năm 1913, nhờ sự đóng góp to lớn của bà Nguyễn Thị Mai, đình Long Thanh được tái thiết toàn bộ bằng gạch ngói, và chính thức đổi hiệu là Long Thanh Miếu Vũ.

Năm 1844, ông Nguyễn Văn Khiêm, một người hảo tâm trong làng, thấy vị trí ngôi đình này không thuận lợi nên cúng một sở đất khoảng 2 ha nằm bên bờ sông Long Hồ (tức vị trí ngày nay) để dời ngôi đình về đây. Lần xây dựng này cũng chỉ bằng cây gỗ, gạch ngói, mặc dù quy mô có khá hơn ngôi đình trước.

Ngày 19 tháng 11 năm Tự Đức thứ năm (1852), Thần hoàng làng Long Thanh được triều đình Huế cấp sắc là: Bổn cảnh Thành Hoàng chi Thần, kèm theo mỹ tự là: Quảng hậu, Chánh trực, Hựu thiện, Đôn ngưng chi Thần.Hiện Sắc phong này được thờ tại nhà ông Hồ Bình Thảo là hậu duệ của dòng họ Hồ.

Đình Long Thanh có kết cấu gồm năm căn nóc hình chóp, làm theo kiểu trùng thiềm điệp ốc (tức mái chồng lên nhau, nhà nối liền nhà), gồm: phía trước là võ quy và võ ca, chính giữa là chính tẩm, phía sau là nhà khách, phía bên tả là nhà bếp.

Chính tẩm làm theo kiểu tứ trụ, có tám kèo đấm và tám kèo quyết. Vị thần được thờ chính ở đây là Thành hoàng bổn cảnh. Ngoài ra, nơi đây phối thờ Quốc Tổ Hùng Vương, Tả Hữu Ban liệt vị, thần Bạch Mã Thái Giám. Hậu cung thờ các vị tiền hiền, hậu hiền, là những người có công xây dựng và phát triển xóm làng. Trước sân đình có đàn thờ Thần Nông, hai miếu thờ thần Bạch Hổ và Ngũ Hành Nương Nương.

Nội điện đình được trang hoàng nhiều bao lam (cửa võng), hoành phi, câu đối, long trụ,… với nét chạm tinh tế, sơn son thếp vàng rực rỡ. Các hương án, khánh thờ, tự khí cũng như thế. Đặc biệt ở gian giữa của đình có treo bức hoành khắc bốn chữ “Long Thanh miếu võ” rất đẹp, đã từng được đem đi triển lãm và đạt huy chương đồng tại hội chợ các nước thuộc địa năm 1922 ở Marseille (Pháp).

Hằng năm tại đình Long Thanh có hai ngày lễ lớn: lễ Hạ Điền vào ngày 14 và 15 tháng 3 âm lịch và lễ Thượng Điền ngày 16 và 17 tháng 10 âm lịch.

Cầu Mỹ Thuận

Cầu Mỹ Thuận là cây cầu dây văng bắc qua sông Tiền, nối liền hai tỉnh Tiền Giang và Vĩnh Long, Việt Nam. Cầu nằm cách Thành phố Hồ Chí Minh 125 km về hướng Tây Nam, trên Quốc lộ 1, là trục giao thông chính của vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Cầu Mỹ Thuận nối liền giữa hai tỉnh Tiền Giang và Vĩnh Long. Đầu cầu phía Bắc thuộc xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang; đầu cầu phía Nam thuộc phường Tân Hòa, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long. Vượt qua sông Tiền nối với tỉnh Tiền Giang.

Cầu Mỹ Thuận là cầu dây văng và cầu bắc qua sông Mekong đầu tiên ở Việt Nam.
Cầu Mỹ Thuận là cầu dây văng và cầu bắc qua sông Mekong đầu tiên ở Việt Nam.

Năm 1950, Hoa Kỳ đã từng có ý định cung cấp vốn cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa xây dựng cây cầu nhưng thất bại. Giữa thập niên 1960, công ty Nippon Koei (Nhật Bản) đã hoàn thành thiết kế đồ án và được lựa chọn nhưng dự án bị hủy do khó khăn về tài chính. Theo chương trình AusAid của Chính phủ Australia, dự án cầu Mỹ Thuận có tổng nguồn vốn đầu tư là 90,86 triệu đô la Úc (tương đương khoảng 2.000 tỷ đồng), trong đó Chính phủ Úc tài trợ 66%, vốn đối ứng phía Việt Nam là 34% đã thành công. Hiện nay, Việt Nam đang khởi công xây dựng cầu Mỹ Thuận 2 cách cầu Mỹ Thuận hiện hữu 350m về phía thượng lưu, kết nối 2 tuyến cao tốc Trung Lương – Mỹ Thuận và Mỹ Thuận – Cần Thơ với tổng mức đầu tư cầu và đường dẫn 2 đầu cầu là 5.003 tỉ đồng.

Dầm cầu cấu tạo bê tông dự ứng lực grade 50, gồm 2 dầm biên, các dầm ngang, bản mặt cầu thi công theo phương pháp đúc hẫng. Dầm biên cao 1760mm rộng 1200-1400mm, bản mặt cầu dày 250mm

Dầm biên được treo bằng 4 x 32 bó cáp, mỗi bó gồm từ 22 đến 69 tao 15,2mm, mỗi tao gồm 7 sợi đặt trong HPDE có màu để trang trí. Mỗi bó cáp một đầu neo vào dầm, đầu neo vào tháp, có dự trữ hệ thống chống rung cho cáp.

Tháp cầu hình chữ H bằng bê tông cốt thép grade 50 cao 123,5 m (tính từ đỉnh bệ cọc); 84,43m (tính từ mặt cầu). Kết cấu móng trụ tháp gồm 16 cọc khoan nhồi có đường kính 2,5m hạ đến cao độ -90m (tháp bờ Bắc) và -100m (tháp bờ Nam), cao độ đáy bệ phần đặc là + 1m, ống vách đặt tới cao độ -35m (tháp bờ Bắc) và -40m (tháp bờ Nam).

Đặt tại hai đầu cầu chính để chống dịch chuyển cho tháp. Thân trụ neo gồm hai cột bê tông cốt thép ứng suất trước bê tông mác 400, kích thước 1500x3500mm. Trụ neo không có xà mũ, thân cột liên kết trực tiếp với kết cấu nhịp. Móng trụ neo gồm 2 cọc khoan nhồi đường kính 2,5m mỗi trụ đặt ở độ sâu -60 (bờ Bắc); -74 và -84 (bờ Nam).

Sơ đồ bố trí dây văng cầu Mỹ Thuận theo hình rẻ quạt (semi-hanp) với hai mặt phẳng dây cách nhau 18.6m. Các cặp dây văng (thượng, hạ lưu) được bố trí đối xứng qua mặt phẳng thẳng đứng đi qua ti dọc của cầu. Góc nghiêng của dây văng so với phương nằm ngang nhỏ nhất (dây văng ngoài cùng) là 31.031o, và lớn nhất (dây văng gần tháp cầu nhất của nhịp biên) là 77.39o. Dây văng ngoài cùng của hai nhịp biên được liên kết với hệ dầm cầu tại điểm cách tim trụ neo 5,0m về phía cầu dẫn.

Toàn cầu có 128 dây văng chia thành 8 nhóm, mỗi nhóm có 16 dây. Dây văng ngoài cùng nhịp biên có số tao lớn nhất (68 tao), dây văng thuộc nhíp chính gằn tháp cầu nhất có số tao nhỏ nhất (22 tao). Các tao cáp kiểu Freyssinet 7 sợi, đường kính danh định 15,2mm.

Mỗi bên gồm 9 nhịp 40m, 1 nhịp 38,8m và 1 nhịp 43, 8m đều dạng dầm BTDƯL đơn giản lắp ghép kiểu “Super Tee” (có hình hộp hở) cao 1750mm, rộng 2140 đến 2810mm đặt cách nhau 2160mm, bê tông mác 32. Riêng nhịp 43,8m gồm đầu hẫng 5m từ nhịp cầu chính và nhịp dầm đơn giản 38,8m. Mặt cầu đổ tại chỗ dày 20 cm tại đầu dầm và 15 cm tại giữa dầm (để khắc phục độ vồng ngược khi căng cốt thép). Bản đổ liên tục nhiệt trên 11 nhịp.

Ống thoát nước cách nhau 5,2m được bố trí trên mặt cầu sát gờ lề bộ hành, cầu chính nước thoát trực tiếp xuống lòng sông. Trên cầu dẫn, nước thoát xuống đất, qua bể lắng để xử lý trước khi thải ra sông.

Chùa Khmer Phù Ly

Chùa Khmer Phù Ly là một ngôi chùa cổ ở Vĩnh Long có cảnh quan đẹp và yên bình. Công trình này là sự giao thoa giữa kiến trúc Ấn Độ, Thái Lan và Campuchia tạo nên một nét đặc trưng mà hiếm ngôi chùa nào có được.

Chùa Khmer Phù Ly là ngôi chùa tọa lạc tại xã Đông Thành, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Theo nhiều tài liệu ghi chép thì chùa được xây dựng vào khoảng những năm 1672 bởi những người Khmer đến đây Vĩnh Long sinh sống và lập nghiệp vào năm 1653.

Ngôi chùa mang đậm kiến trúc Khmer với tường sơn màu vàng chủ đạo cùng mái vòm cao vút với tượng nữ thần Kayno ở tư thế vươn lên đỡ lấy diềm mái, tạo sự chuyển tiếp giữa phương đứng của các cột và phương ngang của mái.
Ngôi chùa mang đậm kiến trúc Khmer với tường sơn màu vàng chủ đạo cùng mái vòm cao vút với tượng nữ thần Kayno ở tư thế vươn lên đỡ lấy diềm mái, tạo sự chuyển tiếp giữa phương đứng của các cột và phương ngang của mái.

Tính đến nay, chùa Khmer Phù Ly đã có tuổi đời hơn 350 năm và vẫn còn giữ được nét cổ kính cũng như sự bền bỉ theo thời gian nhờ được thường xuyên trùng tu và bảo vệ. Chùa Phù Ly là một trong những ngôi chùa cổ mang đậm dáng dấp kiến trúc tại Vĩnh Long của người Khmer Nam Bộ.

Dù có vị trí nằm khuất sâu trong khu vực nông thôn nhưng chùa Phù Ly vẫn rất thu hút các Phật tử đến hành hương cũng như là điểm dừng chân lý tưởng của nhiều du khách.

Đây là một ngôi chùa cổ kính, xinh đẹp gắn liền với nhiều huyền thoại độc đáo của người Khmer vùng Nam Bộ. Trong những ngày lễ Vô Năm và lễ Tết khác của người Khmer, ngôi chùa là nơi hội tụ của bà con dân tộc Khmer, Việt Nam, người Hoa đến thăm viếng vui đón Tết.

Vào năm 2014, với sự tài trợ của một số vị mạnh thường quân ở xã Bình Minh thì chùa Phù Ly đã được trùng tu, xây dựng lại và bổ sung thêm các hạng mục như: chánh điện, trai đường…với tổng kinh phí lên đến hơn 5 tỷ đồng. Nhờ vậy, ngôi chùa ngày nay vừa có nét đẹp cổ kính nhưng vẫn đan xen một chút hiện đại hấp dẫn khách tham quan.

Chánh điện chùa theo kiến trúc mái tam cấp đặc trưng của đồng bào người Khmer vùng Tây Nam Bộ với nếp dưới cùng lớn nhất và nhỏ dần lên trên. Nếp trên cùng có hình tam giác, trung tâm có đỉnh nhọn cao vút lên.
Chánh điện chùa theo kiến trúc mái tam cấp đặc trưng của đồng bào người Khmer vùng Tây Nam Bộ với nếp dưới cùng lớn nhất và nhỏ dần lên trên. Nếp trên cùng có hình tam giác, trung tâm có đỉnh nhọn cao vút lên.

Khu vực chánh điện thờ Phật Thích Ca và nhiều vị La Hán. Trên tường và trần của chánh điện được trang trí bằng những bức họa kể về sự tích Phật từ khi mới sinh ra đến khi đắc đạo cùng nhiều chuyện cổ tích của người Khmer.

Nền chánh điện được xây cao và cách mặt đất khoảng 1,5m. Ngoài chánh điện thì khi bạn đi xung quanh sân sẽ gặp nhiều khu nhà khác là phòng ăn, phòng nghỉ và phòng làm việc của các nhà sư.

Chùa Khmer Phù Ly ngoài là điểm du lịch tâm linh, là điểm hành hương bái Phật của du khách, người dân địa phương thì còn là nơi tổ chức các lớp học cho các sư trẻ, các bé nhỏ học tiếng Khmer, tiếng Kinh cùng các môn khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, giáo lý Phật giáo.

Dạo một vòng xung quanh chùa, bạn sẽ cảm nhận được sự yên bình, thoáng đãng nhưng không kém phần cổ kính nhờ sự xuất hiện của các cây cổ thụ và cây thốt nốt. Phía ngoài chùa là lò thiêu để phục vụ nhu cầu hỏa táng của nhiều gia đình, nhiều nhất là của người Khơ me.

Nhà thờ Chính Tòa Vĩnh Long

Nhà thờ chính tòa Vĩnh Long (tên chính thức: Nhà thờ chính tòa Thánh Anna) là nhà thờ chính tòa của Giáo phận Vĩnh Long, Việt Nam. Nhà thờ tọa lạc tại số 141 đường Lê Thái Tổ, phường 2, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

Nhà thờ này được xây dựng từ năm 1964 tới năm 1967 theo đồ án của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ. Tuy nhiên, vì nhiều lý do nên khi xây dựng, người ta đã chỉnh sửa lại phần lớn chi tiết thiết kế ban đầu nên sau này, Ngô Viết Thụ đã phủ nhận đó là công trình do ông thiết kế.

Tại Vĩnh Long lúc đó không có nhà thờ, không có họ đạo vì là nơi thị tứ có quan quyền cấm đạo rất ngặt. Tuy nhiên cũng có một vài người có thế lực giữ đạo, như ông Trần Văn Triệu, gốc Cái Nhum vì có công phò vua Gia Long lúc tị nạn, nên khi lên ngôi vua thưởng ông làm tổng đốc Vĩnh Long. Có 1 y sĩ danh tiếng được nhiều uy tín trong dân nhưng cũng không dám giữ đạo công khai.

Nhà thờ chính tòa Vĩnh Long hiện là nhà thờ có sức chứa lớn ở Việt Nam, với chiều dài 100 mét, chiều rộng 36 mét và chiều cao đến mái là 27 mét.
Nhà thờ chính tòa Vĩnh Long hiện là nhà thờ có sức chứa lớn ở Việt Nam, với chiều dài 100 mét, chiều rộng 36 mét và chiều cao đến mái là 27 mét.

Khi Pháp chiếm một số tỉnh miền Tây thì Vĩnh Long là nơi tập hợp nhóm chống xâm lược, nên quân Pháp quyết định đánh chiếm luôn Vĩnh Long. Tuy đã chiếm được Vĩnh Long nhưng Pháp không giữ mà chịu ký hòa ước trao trả lại cho triều đình với điều kiện nhà vua thôi cấm đạo và ngưng các cuộc quấy nhiễu các tỉnh lân cận (566 – 82).

Địa phận Vĩnh Long được thành lập năm 1938. Dịp này tất cả các cha thừa sai đều rút về Sài Gòn. Như vậy ở Vĩnh Long trống mặc dầu có cha Thao làm phó. Đức cha Ngô Đình Thục về Vĩnh Long không có chỗ ở nên tạm thời tá túc tại nhà xứ Vĩnh Long và kiêm chính sở Vĩnh Long. Trong thời gian này thấy có cha Thao, cha Quang phụ giúp Đức cha trong việc mục vụ. Đến tháng 10 – 1938 cha Hưởn từ Biên Hòa được đưa về tạm coi sóc Họ đạo và lo mua sắm tòa Giám mục. Tháng 10 – 1940 cha Raphae Linh đến thay cha Hưởn và phục vụ đến năm 1945. Kế cha Tađêô Thiên về ở từ 1945 đến 1948.

Từ 1965 đã khởi công xây cất Nhà thờ chính tòa mới tại Ngã Ba Cần Thơ dưới trào quản lý của cha Raphae Minh. Cha Benoỵt Trương Thành Thắng từ Cái Mơn về thay thế Đức cha Quang. Đức cha Antôn quyết định nhân dịp này bắt đầu sử dụng liền Nhà thờ mới, mặc dầu chỉ xong có tầng dưới. Như vậy khu Nhà thờ cũ tại mé sông tạm thời bỏ trống. Cha sở mới là cha Thắng và cha phó là cha Antôn Khương về nhà thờ mới trong khung cảnh rất chật vật. Tầng trên chưa xong, tầng dưới tạm xong dùng làm Nhà thờ tạm, dùng một vài căn phòng tầng dưới làm nhà ở. Nhà thờ được hoàn thành vào năm 1967. không có tháp chuông, mặc dầu trong họa đồ có vẽ. Cha sở sửa sang khuôn viên Nhà thờ, cất nhà cha sở, trường học. Ngoài ra cha còn mua một thửa đất tại xã Tân Ngãi để làm đất thánh cho Họ đạo và ngày nay đang sử dụng, và lập họ đạo Đình Khao nơi Á thánh Minh tử đạo. Tết Mậu Thân 1968 là một biến cố khó quên trong lịch sử Họ đạo. Cả năm bảy ngàn người đến tá túc ở tầng dưới Nhà thờ, ngoài hành lang, ngoài sân cỏ. Đâu đâu cũng người là người. Mấy tháng trời cha phải chung sống với họ, lo lắng cho họ. Nhiều người ngày hôm nay vẫn còn nhắc: nhờ Nhà thờ mà tôi qua được cái tết Mậu Thân. Sau tết Mậu Thân, Đức cha Antôn Thiện từ chức, Đức cha Giacôbê Mầu được chỉ định thay thế.

Chùa Tiên Châu

Chùa Tiên Châu, tức Tiên Châu Tự, còn có tên là chùa Di Đà; là một ngôi chùa cổ nhất ở tỉnh Vĩnh Long (Việt Nam).

Chùa Tiên Châu nằm trên bãi Tiên, bên tả ngạn sông Cổ Chiên, thuộc cù lao An Bình (tên tục là cù lao Táng). Xưa nơi đây thuộc làng Bình Lương và An Thành (nay là ấp Bình Lương, xã An Bình), huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Mặc dù chỗ ngôi chùa tọa lạc cách trấn thành Vĩnh Long không xa (chỉ cách có con sông Cổ Chiên), song ở đây không khí tĩnh mịch, cây cối tốt tươi, nhà ở thưa thớt. Theo truyền thuyết, vào những đêm trăng thanh gió mát, thỉnh thoảng có tiên nữ xuống trần tắm gội và đùa giỡn. Do đó, bãi sông này được đặt tên là bãi Tiên (Tiên Châu) hay bãi Bích Trân. Ngoài ra, vì vùng đất này có nhiều rạch nhỏ, ghe thuyền có thể qua lại dễ dàng nên còn tên là bãi Bát Tân (có nghĩa là đi bốn phương tám hướng).

Năm 2009, cổng chùa Tiên Châu lại được xây mới, và toàn bộ ngôi chùa cũng được sơn phết lại.
Năm 2009, cổng chùa Tiên Châu lại được xây mới, và toàn bộ ngôi chùa cũng được sơn phết lại.

Theo bài viết về chùa Tiên Châu của tác giả Trần Thành Trung, thì khoảng giữa thế kỷ 18 ở nơi bãi Tiên đã có một am nhỏ bằng tranh tre vách lá, gọi là am Bãi Tiên. Người gầy dựng là Hòa thượng Giác Nguyên (trụ trì: ? -1801), người gốc Thừa Thiên, đệ tử của Thiền sư Liễu Quán (? – 1743), theo phái Tịnh độ tông, thờ Phật A-di-đà.

Năm 1801, sau khi Hòa thượng Giác Nguyên viên tịch, Ni sư Diệu Thiện đến chăm nom am Bãi Tiên. Đến đây, ni sư đã vận động tín đồ và khách thập phương quyên góp tiền của, cất lại am, rồi đổi tên gọi là chùa Bãi Tiên.

Tiếp theo là Giáo thọ Huỳnh Văn Lương (trụ trì: 1828), Hòa thượng Tăng Chiếu (trụ trì: 1829-1858), và đến khi Hòa thượng Hoàng (hay Huỳnh) Đức Hội (pháp danh Tánh Minh, đời 39 phái Lâm Tế dòng Liễu Quán) làm trụ trì (1858-1881), thì chùa Bãi Tiên được tạo dựng lại bằng gỗ (do những người buôn gỗ từ Campuchia về bán ở chợ Vĩnh Long hỷ cúng), rồi đổi tên là Tiên Châu Di Đà Tự. Cho nên sách Đại Nam nhất thống chí ghi Hòa thượng Hoàng Đức Hội chính là người đã “dựng” chùa Tiên Châu.

Chùa Tiên Châu do Hòa thượng Hoàng Đức Hội dựng có hình chữ “tam”, gồm ba gian nối liền nhau là chánh điện, hậu tổ và hậu liêu. Trong chùa có tất cả 96 cột gỗ tròn bằng danh mộc, các kèo, xuyên, trính bằng căm xe, gõ đỏ được chạm trỗ khéo léo của các nghệ nhân địa phương và từ Huế vào. Sau đó, chùa Tiên Châu còn được trùng tu nhiều lần, mà lần sửa đổi quan trọng nhất là vào năm Kỷ Hợi (1899). Khi ấy chùa có bốn gian, gồm tiền đường, chánh điện, trung đường và hậu tổ. Mỗi gian đều làm theo kiểu tứ trụ, được nới rộng theo chiều ngang dọc nhờ các kèo đấm kèo quyết. Bộ giàn trò bằng gỗ quý, mái ngói âm dương, xung quanh đóng vách bổ kho.

Vào khoảng năm 1945, quân đội Pháp đến tái chiếm Vĩnh Long. Từ dưới tàu chiến dàn ở sông Cổ Chiên, họ đã nã đại bác lên bờ. Đạn bay tới tấp vào chùa, nhưng chỉ trúng các cột kèo, còn các tượng Phật chẳng xây xát gì.
Vào khoảng năm 1945, quân đội Pháp đến tái chiếm Vĩnh Long. Từ dưới tàu chiến dàn ở sông Cổ Chiên, họ đã nã đại bác lên bờ. Đạn bay tới tấp vào chùa, nhưng chỉ trúng các cột kèo, còn các tượng Phật chẳng xây xát gì.

Đến sau Tết Mậu Thân (1968), chùa lại bị chiến tranh làm cho hư hại nhiều. Vì thế, ông Đốc phủ Võ Văn Châu đã đứng bán 5 cây sao của chùa đồng thời vận động tín đồ và khách thập phương, để có tiền trùng tu lại chùa. Theo bản thiết kế của Hòa thượng Thiên Hương từ Sài Gòn đem về, nội điện vẫn giữ như cũ, dựng lại mặt tiền bằng vật liệu bê tông. Sau đó, chùa có chiều dài 46 mét, rộng 20 mét. Trên nóc có 5 ngọn tháp, tháp ở giữa là lớn hơn cả, chánh giữa tháp treo biển Tiên Châu Tự.

Hiện chùa vẫn còn lưu giữ được nhiều hiện vật có giá trị văn hóa nghệ thuật cao như tượng Phật Di-lặc, bộ bao lam chạm Thập bát La hán, cùng nhiều bức tranh, liễn đối được chạm khắc rất tinh tế có từ thế kỷ 19 như tứ linh, tứ quý, v.v…

Là một ngôi cổ tự có nhiều giá trị vật chất lẫn tinh thần, nên ngày 12 tháng 12 năm 1994, chùa Tiên Châu được ngành chức năng công nhận là “Di tích Lịch sử-Văn hóa” cấp quốc gia.

Văn Thánh Miếu

Văn Thánh miếu Vĩnh Long cùng với Văn Thánh miếu Biên Hòa (Đồng Nai), Văn Thánh miếu Gia Định, là ba Văn Thánh miếu của vùng đất Nam Bộ có từ thế kỷ 19 được xây dựng nhằm đề cao Nho giáo.

Tuy trên danh nghĩa là đề cao Nho giáo, nhưng thực chất đây là một tụ điểm hoạt động văn hóa đề cao các bậc tiền hiền và giáo dục lòng yêu nước. Thế nhưng chỉ có mấy tháng sau, quân Pháp lại đem chiến thuyền uy hiếp và chiếm thành Vĩnh Long lần thứ hai, Phan Thanh Giản tuẫn tiết, Nguyễn Thông tỵ địa ra Bình Thuận, Pháp lấy cớ thiếu gỗ xây dựng dinh tham biện (dinh tỉnh trưởng) có ý định phá bỏ Văn Thánh miếu. Lúc đó ông Bá hộ Trương Ngọc Lang (tức Bá hộ Nọn-người Minh Hương) được đồng bào đề cử đứng ra ngăn cản. Nhờ vậy công trình văn hóa này mới tồn tại đến hôm nay.

Văn Thánh miếu Vĩnh Long tọa lạc trên một sở đất rộng, cặp bên bờ sông Long Hồ thuộc làng Long Hồ, tổng Long An, huyện Vĩnh Bình (nay thuộc phường 4, thành phố Vĩnh Long).
Văn Thánh miếu Vĩnh Long tọa lạc trên một sở đất rộng, cặp bên bờ sông Long Hồ thuộc làng Long Hồ, tổng Long An, huyện Vĩnh Bình (nay thuộc phường 4, thành phố Vĩnh Long).

Cận bên đường Trần Phú là cổng tam quan xây theo lối cổ lâu có ba tầng mái. Cổng này đơn giản nhưng mỹ thuật. Sau cổng là thần đạo đi thẳng vào điện Đại Thành. Hai bên là hai hàng sao cao vút có cùng niên đại với ngôi Văn miếu, giữa thần đạo là ba tấm bia đá.

  • Tấm bia số 1 với trước tác của Phan Thanh Giản trước khi tuẫn tiết (1866), dựng năm 1911.
  • Tấm bia số 2 dựng để kỷ niệm Tống Hữu Định và giới trí thức trong cuộc trùng tu ngôi miếu lần 2 (1903).
  • Tấm bia số 3 dựng năm 1931, với di chúc của Trương Thị Loan (con gái của Trương Ngọc Lang), người đã hiến đất cho miếu.

Hai tấm bia sau do Nguyễn Liên Phong (tác giả Nam Kỳ phong tục diễn ca) viết vào thập niên đầu của thế kỷ 20.

Cuối đường thần đạo là điện Đại Thành. Bên trong, nơi chính điện thờ Khổng Tử, hai bên (Tả ban, Hữu ban) thờ Tứ phối, Thập triết. Hai bên chính điện có hai gian nhà (Tả vu và Hữu vu) thờ Thất thập nhị hiền. Ngoài ra, trong khuôn viên Văn Thánh Miếu còn có hai ao nhỏ trồng sen (hồ Nhật Tinh, hồ Nguyệt Anh) và một công trình kiến trúc Vĩnh Long nhỏ là Tụy Văn lâu.

Văn Thánh miếu Vĩnh Long được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ngày 25 tháng 3 năm 1991.
Văn Thánh miếu Vĩnh Long được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ngày 25 tháng 3 năm 1991.

Tụy Văn lâu được xây với kết cấu nhà rường bao gồm 2 tầng. Tầng trên là nơi cất sách và thờ Văn Xương Đế Quân-vị tinh quân chủ quản việc thi cử học hành. Tầng dưới Văn Xương các mới là nơi quan trọng nhất, gian giữa là nơi văn nhân thi ngồi đàm đạo, phía sau là khám thờ.

Khám thờ này chạm trổ tinh vi, trong đặt hai bài vị, có câu đối ca tụng hai kẻ sĩ đứng đầu đất Gia Định là Võ Trường Toản và Phan Thanh Giản:

Hoàng phong “xử sĩ” thanh cao lão.
Tự hiệu “thư sinh” tiết liệt thần 

Đến khoảng năm 1933, Phan Thanh Giản được vua Bảo Đại nhà Nguyễn phong thần. Từ đó tại khám thờ này có thêm một hòm sắt và một bức chân dung Phan Thanh Giản rất sống động do họa sĩ Philippe Trần vẽ.

Chùa Ông

Chùa Ông còn gọi là Hội Quán Phúc Kiến hoặc Thất Phủ Miếu, hay Vĩnh An Cung tọa lạc ở số 22, đường Nguyễn Chí Thanh, thuộc phường 5, thành phố Vĩnh Long. Người dân địa phương nơi đây quen gọi là chùa “Ông” chứ thật ra tên gọi đúng phải là Thất Phủ Miếu bởi đang có 7 phủ của người hoa đang hiện diện tại đây gồm: Ninh Ba, Phước Châu, Chương Châu, Truyền Châu, Quảng Châu, Triều Châu và Quỳnh Châu (tức đảo Hải Nam) của các tỉnh Trực Lệ, Phước Kiến và Quảng Đông.

Miếu Thất Phủ tại Vĩnh Long có từ thời Nguyễn. Căn cứ vào các tài liệu lịch sử, tướng nhà Minh mạt là Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên sang nước ta lánh nạn. Đại nam thực lục (tiền biên) chép: “Binh thuyền của Ngạn Địch và Hoàng Tiến vào, thì người Hoa ở Vĩnh Long thuộc nhóm Dương Ngạn Địch”. Nhà Nguyễn thời ấy cho phép họ lập hội Thất Phủ, giống như các bang hội đồng hương của người Hoa hiện nay. Do địa hình thuận lợi đường thủy lẫn đường bộ nên người Hoa chọn nơi này đặt Hội quán giao tiếp.

Mái Thất Phủ miếu lợp ngói âm dương, được phong tô kỹ lưỡng. Chân mái ngói được viền một loại ngói đặc biệt có tráng men màu xanh. Các rìa mái uốn cong, tầng mái gian giữa cao hơn tầng mái của hai gian hai bên.
Mái Thất Phủ miếu lợp ngói âm dương, được phong tô kỹ lưỡng. Chân mái ngói được viền một loại ngói đặc biệt có tráng men màu xanh. Các rìa mái uốn cong, tầng mái gian giữa cao hơn tầng mái của hai gian hai bên.

Đến thời Pháp thuộc, số người Hoa đến Vĩnh Long làm ăn ngày một đông, những người Quảng Đông, Triều Châu tách ra lập bang hội riêng nên những người Phúc Kiến còn lại vào năm 1872 đã tái thiết miếu Thất Phủ cũ lấy tên mới là “Vĩnh An cung” để làm Hội quán của bang mình.

Như vậy chùa Ông hiện nay chỉ thuộc bang của người Trung Hoa Phúc Kiến. Đây là công trình kiến trúc Vĩnh Long mang phong cách miền Hoa Nam Trung Quốc, thịnh hành vào thế kỷ 19 trở về trước. Công trình được thực hiện bởi nhóm thợ tài hoa từ Phúc Kiến sang thi công từ năm 1892 đến 1909, đứng đầu là công trình sư Hà Tạo và nhiều nhóm nghệ nhân cùng nhân công địa phương ở làng Tân Giai, Tân Nhơn…

Miếu Thất Phủ làm theo kiểu “nội công ngoại quốc”. Phía sau là chính điện, phía trước là tiền đường, hai bên là Đông Sương và Tây Sương. Diện tích xây dựng khoảng 800 mét vuông, xung quanh được bao kín bởi những vách gạch kiên cố. Tuy các khu vực chính nằm xa nhau nhưng có thể thông hành qua lại nhờ các nhà nối, gọi là “hà cầu” là những cây cầu bắc qua ao sen.

Miếu Thất Phủ xây dựng theo kiểu cung đình, có năm cửa cái. Trên các vách cửa cái đều có vẽ hình các vị thần giữ cửa. Mặt tiền, cửa vào là ba khuôn cửa lớn, hai bên vuông góc là hai khuôn cửa hẹp hơn. Hình ảnh trang trí đấp nổi bằng sành, sứ, các mảnh chén kiểu bên ngoài, nằm hai bên, phía ngoài cửa chính từ ngoài cổng nhìn vào đã thấy thẩm mỹ hài hòa và cân đối.

Bộ giàn trò Thất Phủ miếu bằng gỗ quý rất mỹ thuật và kiên cố. Tất cả các bộ phận trong chịu lực trong ngôi miếu như: vì, xiên, trính, các con kê hoặc con đội đều chạm hình tinh vi, vừa mang tính hiện thực vừa cách điệu nghệ thuật

Bên trong rất nhiều bao lam ốp vào hai hàng cột to từ ngoài vào sâu bên trong. Phía trên rất nhiều bức hoành, thiết kế giáp chân hai bức một đâu lưng nhạu. Tất cả được sơn son thếp vàng, chạm khắc tỉ mỉ. Mỗi bộ phận trong ngôi miếu đều như những tác phẩm nghệ thuật độc đáo, giàu bản sắc văn hóa Trung Hoa.

Trong miếu có ba bàn thờ chính, bàn thờ giữa là khánh thờ Quan Thánh Đế Quân, Quan Bình Thái Tử, Châu Xương Tướng quân. Khánh thờ bên tả thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu. Khánh thờ bên hữu thờ Phước Đức Chánh Thần. Trong vách không có tượng ngựa xích thố và Mã đầu Tướng quân của Quan Công.

Hàng năm, tại miếu Thất Phủ có các ngày vía như ngày vía bà, vía Phước Đức Chánh Thần, tam Nguyên, Tứ Quý; đặc biệt nhất là ngày vía Ông (13 tháng Giêng và 13 tháng 5), ngày Tất niên (15 tháng 12), có hàng ngàn người đến chiêm bái, chẳng những đã thu hút bà con người Hoa, mà còn khách du lịch Vĩnh Long đến tham quan chiêm bái.

Miếu Công Thần

Miếu Công Thần tọa lạc tại phường 5, thị xã Vĩnh Long. Thực tế, Công Thần Miếu là hậu thân của Miếu Hội Đồng. Di tích này đã được các nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Trong dân gian, Công Thần Miếu bao phủ nhiều huyền thoại.

Theo Đại Nam nhất thống chí, Miếu Hội Đồng ở Vĩnh Long xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 17 (1837), tại Thôn Thanh Mỹ Đông, huyện Vĩnh Bình. Dân gian thường gọi Miếu Hội Đồng là Đình Khao vì các quan ở thành Vĩnh Long thời bấy giờ thường sử dụng nơi đây làm địa điểm mở tiệc khao thưởng quân lính.

Năm 1867, sau khi chiếm được ba tỉnh miền Tây Nam kỳ, thực dân Pháp triệt hạ tất cả các thành trì, dinh thự, công trình văn hoá của nhà Nguyễn. Trong cơn tàn phá đó, thực dân đã dỡ Miếu Hội Đồng Vĩnh Long đem về xây cất Toà Bố. Rất may, 85 đạo sắc và phần lớn đồ tự khí của Miếu Hội Đồng được nhân dân bảo vệ, giữ gìn. Nhân dân đã đem 85 đạo sắc về thờ tạm tại đình làng Thiềng Đức.

Ngày 27/4/1918 Thống Đốc Nam kỳ ký quyết định cho phép tái lập miếu Hội Đồng Vĩnh Long.
Ngày 27/4/1918 Thống Đốc Nam kỳ ký quyết định cho phép tái lập miếu Hội Đồng Vĩnh Long.

Đến năm 1915, do ảnh hưởng của phong trào chấn hưng văn hoá, bà Trương Thị Loan (tức bà Phủ Y, con gái ông Bá hộ Trương Ngọc Lang), bà Lê Thị Danh (vợ Đốc Phủ Tươi) cùng thân hào nhân sĩ Vĩnh Long vận động xin tái lập Miếu Hội Đồng.

Giới thân hào nhân sĩ và nhân dân Vĩnh Long đóng góp nhiều công sức, tiền của để dựng lại ngôi miếu. Riêng Ông Nguyễn Văn Kỷ hiến một mẫu đất, Bà Trương Thị Loan đóng góp 4.000 đồng Đông Dương (thời giá 0.20 đ/1 giạ lúa).

Sự thật, Miếu Công Thần Vĩnh Long thờ hệ thống thần linh gồm 34 vị Nhiên Thần và Nhân Thần. Hệ thống thần linh bao gồm những vị thần do những người đi khai hoang, mở cõi đem từ cố hương miền Bắc, miền Trung và những vị thần xuất hiện từ huyền thoại của người Việt cổ; những vị thần ở duyên hải miền Bắc, miền Trung, có những vị Thần tiếp thu từ văn hoá Champa là những biểu tượng của núi sông, sơn hà xã tắc – gọi chung là Nhiên Thần. Những vị Thần lúc sinh tiền có công khai phá miền Trung, miền Nam hay gắn liền với quá trình chinh phục vùng Long Hồ dinh – gọi chung là Nhân Thần.

Hệ thống Thần linh này được nhân dân thờ tự và triều đình nhà Nguyễn sắc phong hợp thức hoá.

Theo tín ngưỡng dân gian, thần linh chia ra làm hai dạng: Nhân Thần và Nhiên Thần. Nhân Thần là những vị lúc sinh tiền có công với một số người, một địa phương hoặc một triều đại. Nhiên Thần mang tính biểu tượng nên không có tiểu sử. Nếu vị Nhiên Thần nào có sự tích cũng chỉ là huyền tích. Hẳn nhiên, vị thần nào thanh thế lớn, được nhiều người, nhiều nơi tôn thờ thì huyền tích hoàn chỉnh hơn. Dười thời nhà Nguyễn, thần linh phân ra làm ba bậc rõ ràng: Thượng đẳng Thần, Trung đẳng Thần và Hạ đẳng Thần. Thần Thượng đẳng nếu là Nhân Thần thì nhất thiết phải là chính Thần; Thần Trung đẳng và Hạ đẳng thanh thế thu hẹp dần. Nhân Thần có tên không họ hoặc có họ không tên; Nhiên Thần có khi chỉ là Thần ở địa phương, mang tính dân gian.

Theo nội dung các sắc phong của Công Thần Miếu thì 85 đạo sắc là của 34 vị thần. 34 vị Thần được phong tặng hay gia tặng theo chiếu lễ Đàm ân nhân Ngũ tuần đại kháng tiết của vua Minh Mạng năm thứ 21 (1840). Nhưng đến năm Thiệu Trị thứ ba (1843), vua Thiệu Trị thay lời cha ban cấp sắc phong cho Miếu Hội Đồng Vĩnh Long và sau đó lại tiếp tục gia phong. Nhưng chưa rõ vì nguyên cớ gì toàn bộ sắc phong đợt năm 1843 đều bị tiêu huỷ. Ngày 10/12/1848, theo đề nghị của tỉnh Vĩnh Long, vua Thiệu Trị cấp cho Miếu Hội Đồng Vĩnh Long 34 đạo sắc và gia phong 34 đạo sắc.

Đến năm 1850, vua Tự Đức gia tặng Miếu Hội Đồng Vĩnh Long 17 đạo sắc.

Miếu Công Thần hiện bảo tồn, thờ phụng nguyên vẹn 85 đạo sắc. Qua các đạo sắc cho thấy Công Thần Miếu là nơi hội tụ gần như đầy đủ hệ thống thần linh Nam Bộ được triều đình phong kiến chính thức sắc phong.

Tổ đình Ngọc Viên 

Tịnh xá Ngọc Viên được xem là ngôi Tổ đình và là trung tâm hoằng khai giáo pháp khất sĩ của toàn sơn môn hệ phái, đặc biệt kể từ sau lần đầu tiên (1949) tổ chức trọng thể Đại lễ Tự tứ Tăng và Vu Lan bồn trên quy mô lớn, gây ảnh hưởng rộng khắp trong sinh hoạt Phật giáo của toàn miền.

Tịnh xá Ngọc Viên tọa lạc ở số 14/20/2 đường Xóm Chài, phường 2, thị xã Vĩnh Long. Từ hướng cầu Mỹ Thuận trở vào trung tâm Thành phố Vĩnh Long, ngay vòng xoay phía bên cánh trái có con đường xóm chài, vào khoảng 60m phía bên phải có con hẻm nhỏ, chúng ta đi thẳng vào 50m nữa là vào đến cổng tam quan Tổ đình Tịnh xá Ngọc Viên.

Tịnh xá Ngọc Viên được phát triển xây dựng đầu năm 1993 với mô hình bát giác có ba mái nhằm tượng trưng cho tám con đường đưa đến giác ngộ giải thoát đó là: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Được thâu tóm lại thành tam vô lậu học là Giới - Định - Tuệ.
Tịnh xá Ngọc Viên được phát triển xây dựng đầu năm 1993 với mô hình bát giác có ba mái nhằm tượng trưng cho tám con đường đưa đến giác ngộ giải thoát đó là: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Được thâu tóm lại thành tam vô lậu học là Giới – Định – Tuệ.

Bên trong ngay giữa Chánh điện có tháp thờ bảo tượng đức Phật Thích Ca Mâu Ni và bộ đại tạng kinh Việt Nam, nền tháp có ba bậc tượng trưng cho ngôi tam bảo: Phật, Pháp, Tăng. Bốn cửa tháp để trống tượng trưng cho tứ vô lượng tâm: “Từ, Bi, Hỷ, Xả”, phía trên nóc tháp có 13 tầng là biểu trưng cho con đường tiến hóa của chúng sanh (từ địa ngục đến Như Lai).

Xung quanh tháp thờ Phật có 4 đại trụ nhằm tượng trưng cho tứ chúng Tăng, Ni, nam và nữ cư sĩ cùng nhau tu học. Mỗi đại trụ có một bông sen đỡ chân, nhằm để nhắc nhở cho hàng tứ chúng phải dựa trên nền tảng tam nghiệp luôn thanh tịnh, tinh khiết như là hoa sen, mới có thể chống đỡ ngôi nhà Phật pháp.

Phía sau tháp thờ Phật là tủ thờ bộ Pháp bảo Chơn Lý, cùng với di ảnh của đức Tổ sư Minh Đăng Quang – vị khai sáng hệ phái Khất sĩ. Phía trên di ảnh của đức Tổ sư là biểu tượng hoa sen và ngọn đèn chân lý được đức Ngài chọn làm biểu tượng cho dòng pháp “Nối truyền Thích Ca chánh pháp – Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam”, hiện nay là hệ phái Khất sĩ.

Chánh điện cũng là nơi để cho bá tánh Phật tử thắp hương lễ phật, thể hiện niềm tôn kính đối với tam bảo.
Chánh điện cũng là nơi để cho bá tánh Phật tử thắp hương lễ phật, thể hiện niềm tôn kính đối với tam bảo.

Nơi đây cũng thường diễn ra các sinh hoạt như: Thời khóa tụng niệm mỗi ngày, 4 kỳ tụng giới của chư Tăng và cúng hội theo truyền thống hệ phái. Đây cũng là nơi để truyền trao quy giới cho các giới tử xuất gia lẫn tại gia.

Giảng Đường được xây dựng mới vào năm 2004 gồm có 2 tầng. Tầng trệt là nơi để dạy giáo lý cho chư Tăng và Phật tử nhằm phát triển về mặt tâm linh trí tuệ, đồng thời để nêu cao tinh thần xiển dương chánh pháp của đức Tổ sư. Trong quyển Luật Nghi Khất sĩ Ngài quy định mỗi Tịnh xá đều phải có nhà giảng thuyết pháp gốc vuông 16 thước. Tầng lầu 1 là Thiền Đường cho chư Tăng ở trú xứ. Tầng lầu 2 là Tàng Kinh Các, nơi lưu trữ các bộ đại tạng, cũng như các bộ kinh khác của những truyền thống hệ phái.

Trai Đường được xây dựng vào năm 1993 là nơi chư Tăng thọ trai mỗi ngày, ở trên có tầng gác là chỗ tịnh dưỡng của chư vị tỳ kheo và nơi đây cũng thường diễn ra các cuộc hội họp của chư Tăng trong giáo đoàn để bàn những Phật sự trong năm.

Chùa Phật Ngọc Xá Lợi

Chùa Phật Ngọc Xá Lợi tọa lạc tại ấp Vĩnh Hòa, xã Tân Ngãi, TP. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long là một trong những ngôi chùa thiêng liêng và lớn nhất ở Vĩnh Long. Ngay từ bên ngoài là hình ảnh chiếc cổng chùa uy nghiêm, bề thế, nhiều người ghé thăm cũng không quên check-in để lưu lại khoảnh khắc tuyệt đẹp này.

Chùa Phật Ngọc Xá Lợi được xây dựng từ năm 1970 với diện tích là 1,7ha, do cố Hòa Thượng Thích Thiện Hoa trụ trì. Đến tháng 04/1975, do hoàn cảnh khách quan, việc thi công phải tạm dừng.
Chùa Phật Ngọc Xá Lợi được xây dựng từ năm 1970 với diện tích là 1,7ha, do cố Hòa Thượng Thích Thiện Hoa trụ trì. Đến tháng 04/1975, do hoàn cảnh khách quan, việc thi công phải tạm dừng.

Vào năm 2015, công trình chùa Phật Ngọc Xá Lợi Vĩnh đã được tiếp tục xây dựng với các hạng mục: chánh điện, bảo tháp, đài Đức Quán Thế Âm lộ thiên, cổng tam quan, giảng đường, trai đường, bảo tàng, thư viện… trở thành trung tâm văn hóa đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc và Phật giáo. Chùa có kiến trúc nghệ thuật tinh xảo mà hài hòa, vừa mang đậm tính tâm linh vốn có lại vừa mang nét kiến trúc truyền thống của Việt Nam.

Đặc biệt, nổi bật giữa ngôi chùa là tượng đài Đức Quán Thế Âm với chiều cao 32m và Bảo tháp cao 45m. Không gian uy nghiêm cùng kiến trúc độc đáo nhất định sẽ khiến bạn phải trầm trồ khi chứng kiến tận mắt.

Chùa Phật Ngọc Xá Lợi Vĩnh Long có ý nghĩa về mặt tâm linh, trở thành điểm tham quan chiêm bái hấp dẫn. Góp phần quảng bá hình ảnh du lịch Vĩnh Long trên khắp cả nước.
Chùa Phật Ngọc Xá Lợi Vĩnh Long có ý nghĩa về mặt tâm linh, trở thành điểm tham quan chiêm bái hấp dẫn. Góp phần quảng bá hình ảnh du lịch Vĩnh Long trên khắp cả nước.

Đứng trên quảng trường cao hàng chục mét rất thoáng đãng. Du khách sẽ có dịp vừa nghe tiếng chuông chùa ngân nga trong gió lộng, được nhìn ngắm thành phố Vĩnh Long đang nhộn nhịp đêm ngày; ngắm cầu Mỹ Thuận tất bật các phương tiện lại qua; ngắm sông Tiền rộng mênh mông…khiến lòng cảm thấy an nhiên lạ thường.

Nhà Cổ Cai Cường

Bên bờ rạch Cái Muối tấp nập thuyền ghe, nhà cổ Cai Cường nằm trên cù lao An Bình ở xã Bình Hòa Phước, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long được xem là một công trình độc đáo khi có sự kết hợp hài hòa giữa lối kiến trúc phương Tây hiện đại pha lẫn nét Á Đông cổ xưa. Trải qua nhiều lần trùng tu, nhưng cách sắp xếp và trang trí bên trong vẫn còn vẹn nguyên giá trị.

Chủ nhân của ngôi nhà là gia đình ông Phạm Văn Bổn, một đại địa chủ xứ “miệt vườn” ở vùng đất cù lao xưa này. Ông còn được người dân vùng gọi với tên khác là ông Cai Cường. Nhà cổ Cai Cường được xây dựng năm 1885 theo hình chữ Đinh bao gồm hai nếp nhà bố trí vuông góc, đầu nhà sau đấu vào giữa nhà trước, mặt chính quay về hướng Bắc nhìn ra rạch Cái Muối.

Ngôi nhà là sự kết hợp độc đáo giữa kiến trúc Việt và Pháp. Bên ngoài kiến trúc phương Tây, bên trong kết cấu gỗ truyền thống. Đây là dạng thiết kế “nội ứng ngoại hợp”, tức là nội thất bên trong ứng với mỹ thuật truyền thống và văn hóa phương Đông còn ngoại thất kiến trúc bên ngoài hòa hợp với kiến trúc Vĩnh Long.

Nhà cổ có bề ngang 15m, với hàng cột cái gỗ lim cao đến 6m nâng đỡ lớp mái ngói âm dương và lớp mái ngói hình vảy cá cổ kính của các gian nhà.
Nhà cổ có bề ngang 15m, với hàng cột cái gỗ lim cao đến 6m nâng đỡ lớp mái ngói âm dương và lớp mái ngói hình vảy cá cổ kính của các gian nhà.

Phía trước ngôi nhà là một hành lang có cửa thông hai bên với cầu thang hình cánh cung tao nhã, các cột, tường nhà đều được trang trí phù điêu của thời kỳ Phục Hưng, vừa mang yếu tố thẩm mỹ cao, vừa giảm thiểu tác động của nắng, mưa.

Phong cách Pháp thể hiện rõ phần mái chóp, mặt tiền và sàn lót gạch bông Pháp. Trang trí hoa văn và motif mặt ngoài công trình theo kiến trúc phương Tây. Đầu cột dạng phức hợp Compozit kiểu thức Hy – La. Các cột hành lang tạo kiểu truyền thống “tam quan tứ trụ” mỗi gian nhưng kết hợp với vòm vòng cung, lan can con tiện “lục bình” kiểu phương Tây như dinh thự Pháp. Trang trí đầu cột và vòm dùng hoa lá Ô Rô (Acanthus), phù điêu chùm Nho kiểu thức phương Tây trang trí trên tường và mảng tròn tường đầu hồi bên ngoài nhà.

Phần hiên lộ thiên là chiếu nghỉ của hai bậc thang đối xứng hình cánh cung để lên nhà, đây là kiểu dinh thự kiến trúc phương Tây, ở giữa có một bàn thờ thông thiên như ngôi miếu nhỏ, từ cổng đi vào nhìn thấy phần này giống bức bình phong che chắn giữa mặt tiền nhà ảnh hưởng quan niệm phong thủy nhà vườn Huế.

Đặc biệt chất liệu trang trí mặt tiền và hiên nhà cổ lạ và độc đáo. Phần tường trên đầu cửa lá sách ốp gạch bông trang trí tạo thành từng đồ án hoa văn hài hòa không nặng nề, đó cũng là sự sáng tạo rất cá tính của họ Phạm, gạch bông dùng để lót sàn, nhưng kỳ công ốp trang trí lên tường tạo nên thẩm mỹ rất riêng. Hiên được đóng trần gỗ che mái ngói là điểm khác biệt so với nhà truyền thống. Tường mặt tiền trang trí đường diềm hoa văn zic zắc màu nâu đất nung và vàng đất. Phía dưới đường diềm lại có thêm dãy đường diềm bằng gạch bông trang trí màu xanh ngọc. Trên bờ nóc hai mái nhà vẫn còn những chi tiết trang trí tinh xảo kiểu dinh thự Pháp.

Gian trung tâm của nhà giữa treo tấm hoành phi lớn viết chữ Hán “Phạm Phủ Đường,” tức nhà của họ Phạm. Hai bên gian giữa là các bàn thờ gia tiên của gia đình ông Cai Cường.
Gian trung tâm của nhà giữa treo tấm hoành phi lớn viết chữ Hán “Phạm Phủ Đường,” tức nhà của họ Phạm. Hai bên gian giữa là các bàn thờ gia tiên của gia đình ông Cai Cường.

Phần hiên lộ thiên bên ngoài, hai cầu thang đối xứng hình cánh cung để lên nhà, ở giữa có một ngôi miếu nhỏ với mặt tiền nhìn vào trung tâm ngôi nhà là nét kiến trúc đẹp tại Vĩnh Long, văn hóa đậm chất Nam Bộ. Cửa ra vào trong ngôi nhà xây theo hình vòm bán nguyệt, thể hiện chủ nhân ngôi nhà là một người giàu sang và có tầm “ảnh hưởng” trong xã hội.

Bên trong căn nhà, toàn bộ kết cấu chính đều được làm bằng gỗ quý và bài trí theo phong cách phương Đông. Ngôi nhà được chia làm ba phần: nhà trước, nhà giữa và nhà sau. Nhà trước và nhà giữa là khoảng trống rộng, nơi gia chủ đặt bàn ghế tiếp khách. Ngăn cách giữa chúng là một bức tường gỗ đồ sộ, trải dài để phân tách hai nhà.

Điều đặc biệt với nhà cổ này chính là những hình tượng chạm khắc trên các bao lam và các vách gỗ quen thuộc nhưng độc đáo, không theo chuẩn mực kinh điển về hình tượng tứ linh, tứ quý như thường thấy. Các nghệ nhân khắc lên đây những con vật rất quen thuộc đối với vùng đất sông nước phương Nam buổi đầu như Khỉ, Ngựa, Chim, Nai, Hổ…,

Ngày nay, nhà cổ Cai Cường do ông Võ Huỳnh Long, 64 tuổi, con cháu đời thứ ba của dòng họ Phạm kế thừa, quản lý. Nhà cổ đang có những phục vụ cho khách du lịch Vĩnh Long như tham quan, biểu diễn Đờn ca Tài tử, hái trái cây tại vườn… Đặc biệt, du khách có thể nghỉ qua đêm tại hai phòng ngủ xưa của gia đình ông Cai Cường. Ngồi trên bộ trường kỷ trăm năm, hàn thuyên chuyện Đông chuyện Tây, ăn trái cây miệt vườn là những trải nghiệm thú vị trong gian nhà cổ trên đất cù lao Nam Bộ.

Chùa Hạnh Phúc Tăng

Chùa Hạnh Phúc Tăng theo tiếng Khmer gọi là Sanghamangala tọa lạc tại ấp Trung Trạch, xã Trung Thành, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Chùa Hạnh Phúc Tăng được xem là một biểu tượng văn hóa truyền thống đặc sắc của đồng bào Khmer tại Vĩnh Long bởi lối kiến trúc Vĩnh Long cổ xưa rất độc đáo.

Truyền thuyết xưa kể lại, nơi đây là một khu rừng già có nhiều loài thú dữ như hổ, beo…không ai dám bén bảng tới đây. Một ngày kia có một vị tu sỹ đến đây thuần phục các loại thú trở nên hiền lành, ngoan ngoãn. Vì vậy vị sư này đặt tên chùa là Hạnh Phúc, và cái tên này tồn tại cho đến ngày nay.

Chánh điện được xây trên nền cao, lát gạch, tường bê tông kiên cố. Mái ngói lợp thành ba cấp và cấp trên cùng tạo ra độ dốc 45 độ.
Chánh điện được xây trên nền cao, lát gạch, tường bê tông kiên cố. Mái ngói lợp thành ba cấp và cấp trên cùng tạo ra độ dốc 45 độ.

Theo các nhà sư và một số tín đồ cao niên kể lại thì chùa này có niên đại cao nhất so với các chùa Khmer khác trên địa phận hai tỉnh Vĩnh Long – Trà Vinh. Chùa Hạnh Phúc Tăng được xây dựng vào năm 632 dương lịch, tức vào thế kỷ thứ VII, điều này có thể chứng minh qua số năm thành lập chùa được khắc trên vách của chánh điện. Lúc đầu chùa chỉ được xây dựng bằng cây lá đơn sơ. Đến nay, chùa đã qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa, gần nhất là vào năm 2009, 2011 và 2015.

Dù đã trải qua bao biến cố thăng trầm theo dòng thời gian, nhưng những ai đã đến đây đều bắt gặp không gian yên tĩnh, trầm mặc, thư thái bởi những cây cổ thụ hàng trăm tuổi, là nơi trú ẩn của hàng ngàn con chim làm tổ luôn ríu rít tiếng líu lo.

Trên mỗi đầu cột đều có hình nữ thần (Kayno) làm gờ đỡ mái chạm khắc khá tỉ mỉ. Giữa nóc chánh điện có đỉnh tháp nhọn cao vút với 4 mặt được trang trí nhiều họa tiết rất công phu.

Bên trong chánh điện bài trí tượng Phật lớn là tượng đức Phật cảm thắng Ma Vương, tượng Phật đi khất thực, tượng Phật thiền định, tượng Phật nhập Niết bàn.
Bên trong chánh điện bài trí tượng Phật lớn là tượng đức Phật cảm thắng Ma Vương, tượng Phật đi khất thực, tượng Phật thiền định, tượng Phật nhập Niết bàn.

Trong khuôn viên chùa có các sima xây trên sân gạch, giống như các am nhỏ là nơi chôn các “hòn đá kiết giới” thiết lập ranh giới của sự tu hành.

Phía sau chánh điện là cây sala, hậu điện xây theo kiểu nhà ngang, tường gạch mái ngói. Gian giữa có bàn thờ Phật quay về hướng Đông, đây là nơi các sư sãi, phật tử hội họp, tiếp khách và là nơi tiến hành những nghi lễ khác.

Hàng năm tại chùa diễn ra nhiều hoạt động lễ hội quan trọng của đồng bào Khmer, trong đó có 3 lễ chính là: tết Chôl Chnăm Thmây (vào năm mới), lễ Sen Đôn Ta (lễ cúng ông bà) và lễ Ok – Om – Bôk (lễ hội đút cốm dẹp hay còn gọi là lễ hội cúng trăng rằm tháng Mười) thu hút rất đông đồng bào phật tử trong vùng và khách du lịch Vĩnh Long đến tham quan, chiêm bái và dự lễ hội.

Với bề dày lịch sử hơn 1.000 năm, Chùa Hạnh Phúc Tăng luôn ẩn chứa một nét đẹp độc đáo pha lẫn nhiều giai thoại ly kỳ đã và đang mời gọi du khách gần xa đến tìm hiểu, khám phá.

Chùa Phước Hậu

Chùa Phước Hậu có mặt trước giáp sông Hậu, mặt sau giáp với Quốc lộ 54 rất tiện giao thông đường thủy lẫn đường bộ. Từ khi có sự xuất hiện của quần thể những tảng đá khắc những bài kinh nên ngôi chùa ở vùng quê này thu hút rất nhiều phật tử, du khách đến chiêm ngưỡng.

Thượng tọa Thích Phước Cẩn, Trụ trì chùa Phước Hậu kể lại: “Năm 2014, tôi được phật tử mời đi Myanmar du lịch. Qua bên đó được ngắm nhiều ngôi chùa đẹp, đặc biệt những phiến đá khắc kinh rất độc đáo mà các chùa ở Việt Nam không có. Khi về tôi nghiên cứu tìm cách khắc những bài kinh bằng tiếng Việt lên phiến đá”.

Theo Thượng tọa Phước Cẩn, từ ý tưởng ban đầu đến việc thự hiện vô cùng khó khăn từ việc chọn nguyên liệu đá, cách bày trí đến chọn loại kinh nào để dịch ra tiếng Việt.
Theo Thượng tọa Phước Cẩn, từ ý tưởng ban đầu đến việc thự hiện vô cùng khó khăn từ việc chọn nguyên liệu đá, cách bày trí đến chọn loại kinh nào để dịch ra tiếng Việt.

Hòa thượng Phước Cẩn cho biết: “Khi bắt đầu thực hiện nhiều phật tử là kiến trúc sư, nhà mỹ thuật góp ý, đưa ra ý tưởng để bày trí sao cho khoa học, đẹp mắt. Sau đó tôi quyết định làm vườn kinh pháp cú là tinh hoa của Phật giáo do cố Hòa thượng Thích Minh Châu, Viện trưởng viện Đại học Phật giáo Việt Nam, dịch từ tiếng Pali sang tiếng Việt”.

Vườn kinh pháp cú gồm 213 phiến đá màu xanh kích thước 0,4×0,6m, khắc 423 bài kinh trên 2 mặt, ngoài ra còn có một bài thơ nói về đại ý của bộ kinh pháp cú, 1 bài nói về công hạnh của người tu, phật tử và một phiến đá khắc hình Hòa thượng Thích Minh Châu. Các phiến đá đều được mua từ tỉnh đồng nay chở về chùa sau đó được chạm khắc rất công phu.

Tất cả 213 phiến đá được sắp xếp theo hình 8 lá bồ đề tượng trưng cho bát chánh đạo. Sau vườn kinh pháp cú, nhà chùa quyết định làm thêm vườn kinh A di đà và kinh Bắc truyền trích diễm.
Tất cả 213 phiến đá được sắp xếp theo hình 8 lá bồ đề tượng trưng cho bát chánh đạo. Sau vườn kinh pháp cú, nhà chùa quyết định làm thêm vườn kinh A di đà và kinh Bắc truyền trích diễm.

Nhiều du khách đến đây rất thích thú như đi lạc vào khi vườn được bày trí những tảng đá rất đẹp mắt, mang giá trị nghệ thuật rất cao. Nơi đây bắt đầu thu hút nhiều khách du lịch đến đây chiêm bái, thưởng thức những tác phẩm nghệ thuật từ đá ngay giữa vùng sông nước Cửu Long.

Thành Vĩnh Long

Thành Vĩnh Long hay thành Long Hồ ở Vĩnh Long, được xây dựng dưới triều Nguyễn, là thành trì và là trị sở chi phối về quân sự-kinh tế-văn hóa cả khu vực miền Tây Nam Kỳ thời bấy giờ. Tòa thành từng bị quân Pháp đánh phá hai lần: năm 1862 và 1867. Đến lần thứ hai, thì toàn thể Nam Kỳ cũng dần mất hết về tay Pháp. Đây là nơi lưu dấu của vương triều chúa Nguyễn-nhà Nguyễn và cũng là nơi chứng kiến sự bất lực và cái chết của lão thần Phan Thanh Giản, vì đã không thể hoàn thành được trọng trách của mình.

Thành Vĩnh Long xưa tọa lạc trên một gò đất cao (nay gần như đã phẳng) ở tại giao lộ 19 tháng 8 và đường Hoàng Thái Hiếu, thuộc phường 1, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
Thành Vĩnh Long xưa tọa lạc trên một gò đất cao (nay gần như đã phẳng) ở tại giao lộ 19 tháng 8 và đường Hoàng Thái Hiếu, thuộc phường 1, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

Thành trì của dinh Long Hồ thời chúa Nguyễn không có thông tin, vì sử sách không biên chép và cũng không còn lưu lại dấu tích gì.

Thành Vĩnh Long thời nhà Nguyễn, nhờ Trịnh Hoài Đức mà biết được như sau:

   Ngày 22 tháng 2 niên hiệu Gia Long thứ 12 (Quý Dậu, 1813), đắp thành trì, dựng công thự trên đất hai ấp Bình An và Trường Xuân thuộc thôn Long Hồ (nay thuộc Phường 1, thành phố Vĩnh Long). Đây là vùng có dãy sông lớn ôm quanh, giữ thế quan yếu, đúng là phên giậu vững vàng của thành Gia Định, khống chế Cao Miên, hai con sông lớn (sông Tiền và sông Hậu) chẹn chỗ hiểm yếu, giao thông đường thủy hết sức tiện lợi, ruộng vườn cũng rất tốt tươi…

Theo các nhà nghiên cứu, thì người lãnh trọng trách xây thành là khâm mạng trấn thủ Lưu Phước Tường. Thành đắp bằng đất, kiểu Vauban (kiểu kiến trúc thành lũy Tây Âu ở thế kỷ 17-thế kỷ 18), cửa chính hướng Đông Nam, lưng quay hướng Tây Bắc.

Theo Đại Nam nhất thống chí, thì thành có chu vi 100 trượng, cao 1 trượng, dày 2 trượng 5 thước. Hào thành rộng 6 trượng, sâu 4 thước. Thành hình hoa mai, có 5 cây cầu bắc ngang qua hào nơi 5 cửa thành: cửa Đông (cửa Tiền), cửa Tây (cửa Hậu), cửa Bắc (cửa Tả), cửa Đông Nam (?) và cửa Tây Nam (cửa Hữu). Trong thành, có hai con đường dọc, ba con đường ngang, có các công thự như: hành cung, nhà thừa ty, kho lương, trại lính…

Để yểm trợ tòa thành này đồng thời để trấn giữ sông Cổ Chiên, viên trấn thủ còn cho dựng lên ở giữa Cầu Lầu một trạm gác (bốn phía có lỗ châu mai) và hai đồn nhỏ: một ở phía đông Bãi Tiên và một ở Vàm Tuần.
Để yểm trợ tòa thành này đồng thời để trấn giữ sông Cổ Chiên, viên trấn thủ còn cho dựng lên ở giữa Cầu Lầu một trạm gác (bốn phía có lỗ châu mai) và hai đồn nhỏ: một ở phía đông Bãi Tiên và một ở Vàm Tuần.

Phía tả của thành là sông Long Hồ, phía hữu là rạch Ngư Câu (rạch Cái Cá), mặt sau có sông Cổ Chiên (một nhánh lớn của sông Tiền), mặt trước có đường Cừ Sâu (nay là rạch Cầu Lầu). Ở phía trái của tòa thành là nhà Sứ Quán, phía phải là chợ Vĩnh Thanh (tức chợ Vĩnh Long ngày nay). Ở góc nam của thành (chỗ tiếp giáp đường Cừ Sâu và sông Long Hồ) có xưởng Thủy sư (xưởng đóng tàu chiến). Bên kia Cầu Lầu có xóm Lò Rèn chuyên làm đồ binh khí cho quân lính. Ngoài ra ở quanh thành còn có đàn Xã Tắc, đàn Tiên Nông và miếu Văn Thánh…

Năm 2000, di tích Cây Da Cửa Hữu được xếp hạng di tích lịch sử-văn hóa. Trải qua thời gian dài, vì nhiều nguyên nhân, di tích đã bị xuống cấp nghiêm trọng. Sau khi phục dựng lại cửa Hữu cùng nhà bia, lễ khánh thành đã được tổ chức vào chiều 28 tháng 4 năm 2008.

Bảo tàng Vĩnh Long

Bảo tàng Vĩnh Long tọa lạc tại vị trí trung tâm thành phố, gần chợ, nằm cạnh khách sạn Cửu Long, trước mặt là bến tàu du lịch trên dòng sông Cổ Chiên lịch sử, bên kia sông là cù lao An Bình với những vườn cây xanh, trái ngọt, có nhiều khu du lịch sinh thái theo loại hình “homestay”,…Trong khuôn viên bảo tàng có nhiều cây cổ thụ đã được công nhận “Cây di tích lịch sử văn hóa Việt Nam” hòa quyện với những khu nhà trưng bày tạo nên một tổng thể không gian cổ kính, thoáng mở, rợp bóng mát, đẹp nhất thành phố Vĩnh Long, đã trở thành nơi vui chơi, sinh hoạt của cộng đồng, là điểm thu hút công chúng đến nghiên cứu, học tập, tham quan, du lịch.

Những hình ảnh, hiện vật trưng bày cũng giới thiệu khái quát quá trình hoạt động, kết quả đạt được và những đóng góp cụ thể, quan trọng của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Long qua mỗi giai đoạn.
Những hình ảnh, hiện vật trưng bày cũng giới thiệu khái quát quá trình hoạt động, kết quả đạt được và những đóng góp cụ thể, quan trọng của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Long qua mỗi giai đoạn.

Với hơn 200 hình ảnh, tư liệu và hiện vật, trưng bày tập trung vào ba chủ đề chính gồm: Vai trò to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc chuẩn bị mọi mặt về tư tưởng, chính trị và tổ chức các kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; Nhân dân cả nước thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của mình bầu những đại biểu xứng đáng vào Quốc hội của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1960 – 1976); Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục cổ vũ nhân dân tham gia lựa chọn để bầu những đại biểu xứng đáng vào cơ quan dân cử cao nhất nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1976 đến nay).

Hoạt động trưng bày nhằm giúp cán bộ, chiến sĩ, nhân dân và khách tham quan nâng cao nhận thức về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Từ đó tạo sự thống nhất về chính trị, tư tưởng, hành động trong cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên địa bàn tỉnh, giúp người dân thực hiện tốt quyền lợi, nghĩa vụ công dân để cuộc bầu cử thực sự là ngày hội của toàn dân.

Blog’s Nguyễn Kiều Việt Như, tổng hợp