Kiến trúc đẹp tại Quảng Nam được khách du lịch ghé thăm nhiều nhất

0
29

Quảng Nam là một tỉnh giáp biển nằm ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Việt Nam, có tỉnh lỵ là thành phố Tam Kỳ và có đô thị cổ Hội An. Tên tỉnh theo phát âm địa phương nghe như là “Quảng Nôm”. Tên gọi Quảng Nam có nghĩa là mở rộng về phương Nam.

KHÁM PHÁ KIẾN TRÚC VIỆT NAM

Là nơi giao thoa của các nền văn hóa Việt, Hoa, Ấn Độ, Sa Huỳnh, Chăm Pa …, các địa điểm du lịch Quảng Nam mang đậm tính dân tộc với những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể.

“Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm rượu hồng đào chưa nhấm đã say.”

Qua bao thăng trầm biến cố, Quảng Nam vẫn lưu giữ được những tài nguyên văn hóa vô cùng độc đáo, có giá trị nhân văn sâu sắc, tiêu biểu là 2 Di sản văn hoá thế giới: phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn, kinh đô cổ Trà Kiệu, các tháp chàm Khương Mỹ, Chiên Đàn, Bàng An, Phật viện Đồng Dương,…không chỉ là kiến trúc Quảng Nam ấn tượng mà còn ghi lại dấu ấn rực rỡ của nền văn hóa Sa Huỳnh, Champa, Đại Việt.

Trong chừng mươi năm trở lại đây, du khách đến Hội An còn được biết đến nghề làm đèn lồng với những sản phẩm đa dạng và đặc trưng, trở thành dấu ấn độc đáo của đô thị cổ Hội An.
Trong chừng mươi năm trở lại đây, du khách đến Hội An còn được biết đến nghề làm đèn lồng với những sản phẩm đa dạng và đặc trưng, trở thành dấu ấn độc đáo của đô thị cổ Hội An.

Thiên nhiên còn ưu đãi và hào phóng dành cho Quảng Nam những tài nguyên tự nhiên, tài nguyên biển vô cùng quý giá. Đó là 125 km bờ biển kéo dài từ Điện Ngọc đến giáp vịnh Dung Quất hoang sơ và sạch đẹp cùng với Hồ Phú Ninh, thủy điện Duy Sơn, khu rừng nguyên sinh phía Tây Quảng Nam, sông Trường Giang và xứ đảo Cù Lao Chàm là những điểm du lịch sinh thái lý tưởng.

Văn Thánh – Khổng Miếu

Văn Thánh-Khổng Miếu tọa lạc trên khu đất có diện tích 6.000m², nằm trên đường Phan Bội Châu (phường Tân Thạnh, TP Tam Kỳ). Khu di tích với quần thể bao gồm: chánh điện, hậu điện, tháp chuông, tháp trống, hai dãy nhà cầu, nhà cổ dân gian Quảng Nam, cầu bắc qua hồ sen và cổng Tam Quan.

Đây là nơi thờ đức Khổng Tử và tổ chức huấn học về tư tưởng nho giáo, với quần thể kiến trúc nghệ thuật độc đáo, hội tụ nét truyền thống văn hóa dân gian, dân tộc có niên đại hơn 300 năm. Đây là điểm di tích lịch sử-văn hóa-nghệ thuật cấp Quốc gia, được Bộ VH-TT&DL chính thức công nhận từ năm 2006.

Bước vào ngôi nhà chính (Miếu chính), được xây dựng theo lối kiến trúc 3 gian 2 chái, trên mái trang trí hình “nhị long tranh châu”, bốn góc mái có gắn hình tượng những đám mây cách điệu…
Bước vào ngôi nhà chính (Miếu chính), được xây dựng theo lối kiến trúc 3 gian 2 chái, trên mái trang trí hình “nhị long tranh châu”, bốn góc mái có gắn hình tượng những đám mây cách điệu…

Liền kề đó là 2 dãy nhà cầu lợp ngói âm dương (phục dựng năm 2011). Kiến trúc của 2 dãy nhà này không có tường rào che chắn, được chống đỡ bằng các trụ cột bằng gỗ kiền kiền, nhà cầu dùng để che nắng, mưa cho những chức sắc, người dân đến tế lễ vật vào miếu chính, cũng như xem hội dân gian…

Tiếp theo 2 dãy nhà cầu là hai ngôi nhà cổ dân gian (phục dựng năm 2011) với kiến trúc tại Quảng Nam nhà truyền thống 3 gian 2 chái, những đường nét chạm khắc gỗ, cấu kiện gỗ kiền kiền những hình dáng đắp nổi, mái lợp ngói âm dương phiên bản. Tất cả thể hiện khéo léo qua bàn tay của những nghệ nhân làng mộc Hội An.

Ngôi nhà cổ dân gian này được sử dụng vào dịp tế lễ hằng năm. Đây là nơi chuẩn bị lễ vật bày biện các lễ nghi trước khi đưa vào chánh điện để tiến hành lễ. Nơi đây còn dùng để hội họp, thi họa, thi cờ, là nơi tín hữu dừng chân trước khi tiến hành lễ.

Sân đình là khoảng không gian thoáng đãng, lót gạch sạch đẹp theo hình bàn cờ, là nơi tổ chức các hoạt động lễ hội, hội họp, thi họa, thi cờ làng, cờ người, dân ca, dân vũ giải trí...
Sân đình là khoảng không gian thoáng đãng, lót gạch sạch đẹp theo hình bàn cờ, là nơi tổ chức các hoạt động lễ hội, hội họp, thi họa, thi cờ làng, cờ người, dân ca, dân vũ giải trí…

Qua hai ngôi nhà cổ dân gian bước tới hồ bán nguyệt với cây cầu vồng được xây bằng đá, gạch có thành lan can với những ô đúc trang trí hình học được gắn liên tiếp với nhau khá công phu, các bờ hồ cũng được kè bằng đá hộc ngay ngắn để chống sạt lở, có hình cung, đỉnh ở giữa cao nhất uốn cong qua một ao hình bán nguyệt nhìn rất đẹp mắt.

Cổng tam quan có 4 trụ được xây bằng gạch vồ, tô vẽ, cẩn sành sứ đế hình vuông, 2 trụ cao trên chóp trụ có hình hoa sen nở, hình dáng như 2 cái bút lông viết lên nền trời xanh, ngã bóng xuống hồ bán nguyệt liền kề như chạm vào nghiêng mực đầy, 2 trụ phụ có gắn hình con nghê cách điệu, tất cả đều được cẩn sành…

Nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, giá trị di tích lịch sử. Ngày nay, hàng ngày các tầng lớp nhân dân, học sinh, sinh viên thường vào Văn Thánh-Khổng Miếu dâng hương, tham quan, vãng cảnh. Đặc biệt, vào dịp lễ hội tháng Giêng hàng năm thường diễn ra các hoạt động sinh hoạt văn hóa dân gian đậm đà bản sắc dân tộc, tôn vinh truyền thống hiếu học xứ Hà Đông, khuyến khích sự học.

Chùa Cầu

Chùa Cầu là một cây cầu cổ trong khu phố cổ Hội An, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam. Cầu còn có tên gọi Cầu Nhật Bản hay Lai Viễn Kiều.

Chiếc cầu này được các thương nhân người Nhật Bản góp tiền xây dựng vào khoảng thế kỷ 17, nên đôi khi người ta còn gọi là cầu Nhật Bản. Theo truyền thuyết, ngôi chùa được coi như là một thanh kiếm đâm xuống lưng con quái vật Namazu, khiến nó không quẫy đuôi, gây ra những trận động đất. Sau đó, người ta dựng thêm phần chùa, nối liền vào lan can phía Bắc, nhô ra giữa cầu, từ đó người địa phương gọi là Chùa Cầu.

Năm 1719, chúa Nguyễn Phúc Chu thăm Hội An, đặt tên cho chiếc cầu là Lai Viễn Kiều, với ý nghĩa là "Cầu đón khách phương xa".
Năm 1719, chúa Nguyễn Phúc Chu thăm Hội An, đặt tên cho chiếc cầu là Lai Viễn Kiều, với ý nghĩa là “Cầu đón khách phương xa”.

Theo niên đại được ghi lại ở xà nóc và văn bia còn lại ở đầu cầu thì chiếc cầu đã được dựng lại vào năm 1817. Ngôi chùa có lẽ cũng được dựng lại vào thời gian này.

Chùa được trùng tu vào các năm 1817, 1865, 1915, 1986 và dần mất đi các yếu tố kiến trúc Nhật Bản, thay vào đó là kiến trúc Quảng Nam mang đậm phong cách Việt, Trung.

Hiện nay, Chùa Cầu đang bị xâm thực bởi kênh nước thải hôi thối bên dưới cầu và có nguy cơ bị lún nghiêng.

Có câu thơ về Chùa Cầu:

Ai đi phố Hội Chùa Cầu
Để thương để nhớ để sầu cho ai
Để sầu cho khách vãng lai
Để thương để nhớ cho ai chịu sầu.

Hình Cầu Chùa có trên mặt sau tờ bạc 20.000 nghìn đồng bằng polyme của Việt Nam.

Chiếc cầu làm bằng gỗ trên những trụ cầu bằng gạch đá, dài khoảng 18 m, có mái che, vắt cong qua lạch nước chảy ra sông Thu Bồn giáp ranh giữa hai đường Nguyễn Thị Minh Khai và Trần Phú.

Ngày 17 tháng 2 năm 1990, Chùa Cầu được cấp bằng Di tích Lịch sử – Văn hóa quốc gia.
Ngày 17 tháng 2 năm 1990, Chùa Cầu được cấp bằng Di tích Lịch sử – Văn hóa quốc gia.

Chùa Cầu là một trong những di tích có kiến trúc ở Quảng Nam khá đặc biệt. Mái chùa lợp ngói âm dương che kín cả cây cầu. Trên cửa chính của Chùa Cầu có một tấm biển lớn chạm nổi 3 chữ Hán là Lai Viễn Kiều. Chùa và cầu đều bằng gỗ sơn son chạm trổ rất công phu, mặt chùa quay về phía bờ sông. Hai đầu cầu có tượng thú bằng gỗ đứng chầu, một đầu là tượng chó, một đầu là tượng khỉ, (thần khỉ và thần chó là 2 vị thần trấn giữ namazu trong truyền thuyết dân gian của người Nhật). Tương truyền đó là những con vật mà người Nhật sùng bái thờ tự từ cổ xưa. Tuy gọi là chùa nhưng bên trong không có tượng Phật. Phần gian chính giữa (gọi là chùa) thờ một tượng gỗ Bắc Đế Trấn Võ – vị thần bảo hộ xứ sở, ban niềm vui hạnh phúc cho con người, thể hiện khát vọng thiêng liêng mà con người muốn gửi gắm cùng trời đất nhằm cầu mong mọi điều tốt đẹp.

Tượng đài Mẹ Thứ – Người Mẹ vĩ đại của cả dân tộc

Tượng đài Mẹ Thứ nằm trên đỉnh núi Cấm, thôn Phú Thạnh, xã Tam Phú, thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam. Hàng năm, khu tượng đài Mẹ Thứ là điểm tham quan thu hút rất nhiều lượt du khách gần xa đến đây.

Nằm cách Thành phố Tam Kỳ khoảng 7 km, liền kề với nhiều điểm tham quan du lịch Quảng Nam nổi tiếng khác. Du khách có thể dễ dàng di chuyển đến đây bằng nhiều phương tiện: ô tô, xe máy hoặc xe buýt. Nếu du khách di chuyển bằng ô tô đi từ thành phố Đà Nẵng đến Tam Kỳ sẽ mất khoảng 2 giờ đồng hồ. Đến ngã tư thì rẽ trái xuống đường Thanh Hóa. Chỉ cần đi thẳng theo sự chỉ dẫn của bảng đường bạn sẽ tìm được ngay tượng đài Mẹ Thứ.

Tượng Đài cao 18,5m được làm bằng chất liệu đá sa thạch với các khối tượng được làm bằng đá hoa cương chạy dài theo đường cánh cung 120m. Ở chính giữa tượng đài là chân dung mẹ Nguyễn Thị Thứ được khắc những nét bình dị, mộc mạc, vẻ đẹp nhân hậu và tình thương bao la mẹ dành cho các con.
Tượng Đài cao 18,5m được làm bằng chất liệu đá sa thạch với các khối tượng được làm bằng đá hoa cương chạy dài theo đường cánh cung 120m. Ở chính giữa tượng đài là chân dung mẹ Nguyễn Thị Thứ được khắc những nét bình dị, mộc mạc, vẻ đẹp nhân hậu và tình thương bao la mẹ dành cho các con.

Hay di chuyển bằng xe máy cũng là sở thích cho những bạn trẻ đam mê phượt. Nhưng vì đường đi quanh co với hai bên toàn là núi và thường không có trạm xăng dọc đường nên du khách lưu ý đi cẩn thận và đổ đầy bình xăng trước chuyến đi.

Ở hai bên khối tượng là những vách đá được tạo thành những khối đá tự nhiên xếp san sát nhau một cách khéo léo uyển chuyển như những cung bậc tiết tấu của một bản nhạc giao hưởng. Những cung bậc trầm, bổng, lên xuống giống như tượng trưng cho năm tháng lịch sử gian khổ của những người con. Đó giống như là tất cả cung bậc cảm xúc vui, buồn, mong, nhớ của những người con xa nhà nơi phương xa mong nhớ về người Mẹ của mình. Sự khéo léo của người khắc họa thật khiến du khách cảm thấy nghẹn ngào, rụng động trước hình ảnh Tượng đài Mẹ Thứ linh thiêng.

Bao xung quanh tượng đài là hồ nước rộng lớn hơn 1000m2. Du khách nếu từ ngoài nhìn vào sẽ những dòng nước chảy ra từ bên trong vách tượng Mẹ tràn lên mặt hồ. Hình ảnh người Mẹ Thứ ôm trọn các con vào lòng mang một ý nghĩa nhân văn biểu trưng cho tình cảm dâng trào, yêu thương sâu sắc, nghĩa tình của người Mẹ đối với các con, với những người chiến sĩ anh dũng và hết lòng với Tổ Quốc trong những năm tháng đấu tranh oanh liệt.

Đi vào bên trong, du khách sẽ thấy bảo tàng với diện tích 400m2. Ngay từ lúc đầu tiên bước vào, du khách sẽ thấy ngay phòng trưng bày, sau đó là phòng bảo quản – Đây chính là nơi ghi danh các bà mẹ Việt Nam anh hùng cùng với những tư liệu hình ảnh, phim ảnh, giới thiệu về cuộc đời trong những năm tháng khốc liệt cũng như sự cống hiến hết mình của người Mẹ với Tổ quốc Việt Nam.

Du khách chỉ cần dạo một vòng để khám phá thôi sẽ dễ dàng hình dung ra được sự vất vả gian khổ, tình yêu bao la của người Mẹ dành cho các chiến sĩ Việt Nam mà không thể so sánh được với bất kì một ai khác. Hãy kịp chụp lại những khoảnh khắc này để thấy đây thực sự là những giây phút thiêng liêng ý nghĩa mà chỉ khi du khách tới đây mới có thể cảm nhận được.

Sau gần 7 năm xây dựng và hoàn thiện, tượng đài Mẹ Thứ được khánh thành vào tháng 3/2015. Với tổng diện tích 15ha trên đỉnh núi Cấm bao la rộng lớn thật khiến du khách choáng ngợp với không gian gần gũi với thiên nhiên, núi rừng hùng vĩ nơi đây.
Sau gần 7 năm xây dựng và hoàn thiện, tượng đài Mẹ Thứ được khánh thành vào tháng 3/2015. Với tổng diện tích 15ha trên đỉnh núi Cấm bao la rộng lớn thật khiến du khách choáng ngợp với không gian gần gũi với thiên nhiên, núi rừng hùng vĩ nơi đây.

Mặt trước tượng đài Mẹ Thứ là quảng trường tiền môn với 8 cột trụ cao khổng lồ. Đây là những cột trụ huyền thoại, mỗi cột cao 11m với đường kính gần 2m. Nếu đi từ phía ngoài vào bạn sẽ thấy hai bên là những cột trụ cao sừng sững khắc họa hình ảnh trượng trưng cho các bà mẹ ở mọi miền đất nước nhằm thể hiện sự biết ơn, trân trọng công lao to lớn của người phụ nữ Viêt Nam kiên cường, bất khuất, trung hậu, đảm đang.

Dọc theo lối vào chính lên tượng đài, du khách sẽ nhìn thấy hai bên là 30 ngọn đèn đá, tượng trưng cho 30 năm vất vả, sự chờ đợi mòn mỏi của người Mẹ Việt Nam anh hùng chờ đợi các con đánh trận trở về. Chỉ nhìn thấy những hình ảnh này thôi đã làm rung động trái tim của du khách khi đến thăm quan tượng đài Mẹ Thứ hùng vĩ giữa bầu trời xanh bao la.

Du khách có thể tham quan ở phía sau tượng đài là nơi các nghệ nhân khắc những bài thơ về người Mẹ Việt Nam Anh Hùng lên tảng đá lớn. Những bài thơ dạt dào, tình cảm, sâu lắng ca ngợi về Mẹ khiến cho du khách bâng khuâng, xao xuyến, ai tới đây cũng đều không muốn về.

Với khuôn viên rộng, thành phố Quảng Nam đã cho xây dựng 12 ngôi nhà chờ cùng với không gian mở, thoáng mát xung quanh trông nhiều cây và hoa. Đây là nơi du khách có thể nghỉ chân, ăn uống và chụp ảnh kỉ niệm cùng bạn bè, gia đình.

Với tâm huyết nỗ lực và sự cố gắng suốt 7 năm trời của thành phố Quảng Nam. Họ đã ghi vào sổ tay du lịch thêm một địa điểm tham quan Tượng đài Mẹ Thứ tuyệt vời này. Tượng đài Mẹ Thứ nhanh chóng trở thành Tượng đài lớn nhất Đông Nam Á mang giá trị lịch sử và nhân văn vô cùng ý nghĩa, đó chính là nét hòa hợp giữa bản sắc văn hóa dân tộc với thế hệ trẻ tương lai ngày hôm nay.

Cầu Cửa Đại

Cầu Cửa Đại là cây cầu lớn nhất Quảng Nam được bắc qua sông Thu Bồn, nối liền từ thành phố Hội An tới Chu Lai. Cây cầu được người dân ở hai bên bờ sông ngóng chờ suốt nhiều năm qua, với kinh phí xây dựng lên tới gần 3.500 tỷ đồng.

Cầu Cửa Đại được khánh thành vào tháng 3/2016 – sau 6 năm kể từ khi đưa vào thi công thực hiện. Với tổng chiều dài hơn 18km, đây không chỉ là cây cầu về mặt địa lý, mà còn là cây cầu “vô hình” kết nối du lịch các địa phương ven biển, nối hai bờ di sản thế giới là phố cổ Hội An và Thánh Địa Mỹ Sơn. Hơn nữa đó là cây cầu dẫn tới sự phát triển của toàn tỉnh Quảng Nam nói chung và các khu vực lân cận nói riêng.

Cầu Cửa Đại được khánh thành vào tháng 3/2016.
Cầu Cửa Đại được khánh thành vào tháng 3/2016.

Ngày cầu chính thức được khánh thành, những người dân ở tỉnh Quảng Nam vô cùng phấn khởi vì từ nay họ không phải đi qua sông bằng những chuyến đò chòng chành như trước. Nền kinh tế, văn hóa, đời sống xã hội của người dân ở hai đầu cầu cũng phát triển hơn nhờ sự trao đổi dễ dàng, thuận tiện.

Ngoài con đường nhựa thẳng tắp trải dài, ở 2 bên cầu có lối đi bộ và lan can vững chắc đảm bảo an toàn cho mọi người. Đây đã trở thành điểm du lịch và hóng mát lí tưởng cho người dân địa phương và các du khách. Từ trên cầu chúng ta có thể ngắm nhìn toàn bộ khung cảnh sầm uất cổ điển của khu phố cổ Hội An đã đi vào biết bao tác phẩm nghệ thuật.

Thánh địa Mỹ Sơn

Thánh địa Mỹ Sơn thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 69 km và gần thành cổ Trà Kiệu, bao gồm nhiều đền đài Chăm Pa, trong một thung lũng đường kính khoảng 2 km, bao quanh bởi đồi núi. Đây từng là nơi tổ chức cúng tế của vương triều Chăm Pa. Thánh địa Mỹ Sơn được coi là một trong những trung tâm đền đài chính của Ấn Độ giáo ở khu vực Đông Nam Á và là di sản duy nhất của thể loại này tại Việt Nam.

Thông thường người ta hay so sánh Thánh địa này với các tổ hợp đền đài chính khác ở Đông Nam Á như Borobudur (Java, Indonesia), Pagan (Myanma), Angkor Wat (Campuchia) và Ayutthaya (Thái Lan). Từ năm 1999, Thánh địa Mỹ Sơn đã được UNESCO chọn là một trong các di sản thế giới tân thời và hiện đại tại phiên họp thứ 23 của Ủy ban di sản thế giới theo tiêu chuẩn C (II) như là một ví dụ điển hình về trao đổi văn hoá và theo tiêu chuẩn C (III) như là bằng chứng duy nhất của nền văn minh châu Á đã biến mất. Hiện nay, nơi đây đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam đưa vào danh sách xếp hạng 23 di tích quốc gia đặc biệt quan trọng.

Mỹ Sơn có lẽ được bắt đầu xây dựng vào thế kỷ IV. Trong nhiều thế kỷ, Thánh địa này được bổ sung thêm các ngọn tháp lớn nhỏ và đã trở thành khu di tích chính của văn hóa Chămpa tại Việt Nam.
Mỹ Sơn có lẽ được bắt đầu xây dựng vào thế kỷ IV. Trong nhiều thế kỷ, Thánh địa này được bổ sung thêm các ngọn tháp lớn nhỏ và đã trở thành khu di tích chính của văn hóa Chămpa tại Việt Nam.

Ngoài chức năng hành lễ, giúp các vương triều tiếp cận với các Thánh thần, Mỹ Sơn còn là trung tâm văn hóa và tín ngưỡng của các triều đại Chămpa và là nơi chôn cất các vị vua, thầy tu nhiều quyền lực. Những di vật đầu tiên được tìm thấy ghi dấu thời đại vua Bhadravarman I (Phạm Hồ Đạt) (trị vì từ năm 381 đến 413), vị vua đã xây dựng một Thánh đường để thờ cúng linga và Shiva. Mỹ Sơn chịu ảnh hưởng rất lớn của Ấn Độ cả về kiến trúc (thể hiện qua các đền tháp đang chìm đắm trong huy hoàng quá khứ), và về văn hóa–thể hiện qua các dòng bia ký bằng chữ Phạn cổ trên các tấm bia.

Về mặt kiến trúc thì các đền tháp, lăng mộ ở Mỹ Sơn là nơi hội tụ của các kiểu dáng khác nhau, từ những kiểu cổ đại hay kiểu Mỹ Sơn E1 (thế kỷ VIII, Mỹ Sơn E1 và F1), kiểu Hòa Lai (cuối thế kỷ VIII – đầu thế kỷ IX, Mỹ Sơn A2, C7 và F3), kiểu Đồng Dương (cuối thế kỷ IX – đầu thế kỷ X, Mỹ Sơn A10, A11-13, B4, B12), kiểu Mỹ Sơn A1 (thế kỷ X, Mỹ Sơn B5, B6, B7, B9, C1, C2, C5, D1, D2, D4), kiểu chuyển tiếp Mỹ Sơn A1-Bình Định (đầu thế kỷ XI – giữa thế kỷ XII, Mỹ Sơn E4, F2, nhóm K) và kiểu Bình Định (cuối thế kỷ XI – đầu thế kỷ XIV, Mỹ Sơn B1 và các nhóm G, H).

Nghệ thuật và kiến trúc Quảng Nam qua bố cục đền tháp mang ảnh hưởng lớn của phong cách Ấn Độ. Khu Thánh địa gồm nhiều cụm tháp, bố cục mỗi cụm tháp đều có một tháp chính (Kalan) ở giữa và nhiều tháp phụ nhỏ bao bọc xung quanh. Kalan thường thờ Linga (sinh thực khí) hay linh tượng Shiva. Mặt trước mỗi cụm tháp là một tháp cổng (Gopura), tiếp đến tiền đình (Mandapa), hạng mục công trình có chức năng là nơi sắp xếp lễ vật và múa hát nghi thức hành lễ. Bên cạnh là một kiến trúc luôn quay về hướng Bắc (hướng thần tài lộc Kuvera), gồm 1 hay 2 phòng, gọi là Kósa Grha dùng để chứa đồ tế nhuyễn và thức ăn (cỗ) cúng chư thần. Các tháp đều có hình chóp, biểu tượng của đỉnh Meru thần Thánh, nơi cư ngụ của các vị thần Hindu. Cổng tháp thường quay về phía đông để tiếp nhận ánh sáng Mặt Trời. Nhiều tháp có kiến trúc rất đẹp với hình những vị thần được trang trí với nhiều loại hoa văn. Phần lớn những kiến trúc này hiện nay đã bị suy tàn, nhưng đây đó vẫn còn sót lại những mảng điêu khắc mang dấu ấn hoàng kim của các triều đại Chăm Pa huyền thoại. Những đền thờ chính ở Mỹ Sơn thờ một bộ linga hoặc hình tượng của thần Shiva – thần bảo hộ của các triều vua Chăm Pa. Những người cầu nguyện thời trước thường đi vòng quanh tháp theo chiều kim đồng hồ trên một lối nhỏ.

Mặc dù chịu ảnh hưởng lớn từ Ấn Độ giáo, song biểu tượng của Phật giáo cũng tìm thấy ở Mỹ Sơn, vì đạo Phật Đại Thừa (Mahayana) đã trở thành tín ngưỡng chính của người Chăm vào thế kỷ X. (Một số đền đài đã được xây dựng trong thời gian này, tuy nhiên vào thế kỷ XVII nhiều tòa tháp ở Mỹ Sơn đã được tu sửa và xây dựng thêm) thông tin này không chính xác.
Mặc dù chịu ảnh hưởng lớn từ Ấn Độ giáo, song biểu tượng của Phật giáo cũng tìm thấy ở Mỹ Sơn, vì đạo Phật Đại Thừa (Mahayana) đã trở thành tín ngưỡng chính của người Chăm vào thế kỷ X. (Một số đền đài đã được xây dựng trong thời gian này, tuy nhiên vào thế kỷ XVII nhiều tòa tháp ở Mỹ Sơn đã được tu sửa và xây dựng thêm) thông tin này không chính xác.

Cụm tháp A (Kalan Mỹ Sơn A1) thờ một bộ Linga, có 6 ngôi đền nhỏ từ A2-A7 đối xứng nhau bao quanh thờ các vị thần phương hướng (trừ 2 hướng Đông, Tây): hướng Đông-thần sấm Indra, hướng Đông Nam-thần lửa Agni, hướng Nam-Diêm vương Yama, hướng Tây-thần bầu trời Varuna, hướng Tây Nam-thần Nirrti, hướng Tây Bắc-thần gió Vayu, hướng Bắc-thần Kuvera, hướng Đông Bắc-thần toàn năng Isána. Tháp A1 có 2 cửa chính đối diện nhau, quay về 2 hướng Đông và Tây. Bao phía ngoài, xa tháp chính A1 hơn, là các tháp phụ tương đối lớn, được ký hiệu từ A8-A12, phân bố trên một mặt bằng vuông vắn.

Đối diện với cụm tháp A, là cụm tháp B (Kalan Mỹ Sơn B1) là cụm tháp trung tâm của Thánh địa Mỹ Sơn.

Tại Thánh địa Mỹ Sơn có một đền xây dựng bằng đá, nó cũng là đền đá duy nhất của các di tích Chăm. Văn bia tại Mỹ Sơn cho biết, đền này được trùng tu lần cuối cùng bằng đá vào năm 1234.Nhưng rất tiếc là xây dựng chưa hoàn thành. Khi người Pháp khám phá Mỹ Sơn nó có nền như ngày nay, phía trên là đống gạch khổng lồ mà họ phải dọn dẹp 2 tháng mới xong (theo Vòng tròn Mỹ Sơn, tác giả Parmentier, 1904) Ngày nay, ngôi đền này đã bị sập (có lẽ do bom Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, vì ngay sát tháp là một hố bom sâu hoắm vẫn dấu tích) nhưng hệ móng của nó cho thấy nó cao trên 30 m và đây là ngôi đền cao nhất của Thánh địa này. Các tài liệu thu thập được xung quanh khu đền này cho thấy nhiều khả năng đây là vị trí của ngôi đền đầu tiên vào thế kỷ IV.

Phật viện Đồng Dương

Tháp Đồng Dương là một di tích quan trọng vào bậc nhất của Chăm Pa, gồm có hệ thống các tháp nằm gần nhau, nằm ở làng Đồng Dương, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Tháp được xây dựng vào thời kỳ Chăm Pa còn bị ảnh hưởng của Phật giáo, nên có tính chất đặc biệt so với các tháp khác trong hệ thống tháp Chăm, nó được mệnh danh là tòa tu viện Phật giáo giữa đô thành. Hệ thống tháp Đồng Dương nằm ngay chính trung tâm đô thành Indrapura trong thời kỳ vương triều Indrapura.

Hiện nay cả khu đền tháp này đã bị hủy hoại bởi chiến tranh, thiên tai và cả con người đã biến nó thành bình địa, đã đổ nát hết chỉ còn lại nền chính và một ít dấu tích của các bức tường, các thềm cửa.

Dựa vào các khai quật khảo cổ của các nhà nghiên cứu Pháp vào đầu thế kỷ 20, đã cho thấy kiến trúc đặc biệt của khu tháp này.
Dựa vào các khai quật khảo cổ của các nhà nghiên cứu Pháp vào đầu thế kỷ 20, đã cho thấy kiến trúc đặc biệt của khu tháp này.

Khu đền thờ Đồng Dương rộng 155 mét và dài 326 mét, có tất cả ba cụm kiến trúc được tách ra khỏi nhau bằng các tường ngăn và kế tiếp nhau theo trục từ tây sang đông. Trong ba cụm đó, chỉ cụm ở phía tây và cụm ở phía đông là còn lại nhiều dấu tích kiến trúc và điêu khắc.

Cụm phía Tây

Cụm phía Tây gồm tháp thờ trung tâm, các tháp phụ và điện thờ nhỏ nằm dọc các chân tường bao quanh, tháp thờ chính là loại tháp tầng truyền thống của Chăm Pa gồm nền, thân, và các tầng. Quanh tường của nền tháp chính được trang trí bằng các hình tháp và hình đầu voi xen kẻ nhau.

Nội thất của tháp hình vuông và có hai ô khám lớn ở mặt bắc và mặt nam, trong gian thờ có một đài thờ lớn bằng đá – một trong những tác phẩm điêu khắc lớn đẹp và có nhiều giá trị về Phật giáo.

Ngoài ngôi tháp thờ chính trong cụm phía tây này, còn có dấu tích của các kiến trúc khác như tháp Nam, tháp Bắc, tháp Tây Nam, tháp Tây Bắc, tháp Trung tâm, các miếu thờ nhỏ quanh các chân tường, các ngôi nhà dài, tháp cổng,…

Cụm Trung tâm

Tại cụm Trung tâm, kiến trúc đã đổ nát gần hết, chỉ để lại dấu tích các bức tường, thềm cửa,…Một trong những kiến trúc quan trọng nhất của cụm phía đông này là ngôi nhà dài, chạy theo hướng đông – tây, và mở hai cửa ra vào ở hai đầu hồi đông và tây. Gian nhà được chiếu sáng bằng hai dãy cửa sổ ở hai phía tường dài, mặc dầu không để lại nhiều dấu tích kiến trúc Quảng Nam và điêu khắc như ở cụm phía Tây, nhưng một số tượng môn thần – Dvarapala bằng đá là những tượng môn thần đẹp nhất, gây ấn tượng nhất không chỉ của Đồng Dương mà còn cả lịch sử nghệ thuật Chăm Pa.

Cụm phía Đông

Tại cụm phía Đông, là khu kiến trúc có chức năng như một tu viện Phật giáo thực thụ, tại cụm này ngoài ngôi nhà dài không có một dấu tích ngôi tháp nào, gian nhà dài được dựng trên hai dãy tám cột, có hai cột chính lớn, các cột đều bằng gạch và đều vuông.

Tháp Đồng Dương được xây dựng vào thế kỷ 9, trong thời kỳ Phong cách Đồng Dương của Chăm Pa, đây cũng là thời kỳ Phật giáo ảnh hưởng mạnh đến Chăm Pa.
Tháp Đồng Dương được xây dựng vào thế kỷ 9, trong thời kỳ Phong cách Đồng Dương của Chăm Pa, đây cũng là thời kỳ Phật giáo ảnh hưởng mạnh đến Chăm Pa.

Đài thờ Vihara nằm ở cụm này có tượng Phật Thích Ca Mâu Ni, mặt trước của bệ tượng phật được trang trí một nhân vật có bốn đầu và tám tay, ngự bên trên là tượng Phật ngồi hai chân thõng xuống và hai bàn tay để lên hai đầu gối, xung quanh tượng Phật có các tượng đá nhỏ thể hiện các tu sĩ đứng và quỳ cùng các vị La Hán.

Tháp được vua Indravarman II một người đã theo Phật giáo xây dựng, khi lên ngôi vị vua sáng lập ra triều đại Indrapura này đã thúc đẩy cho Phật giáo phát triển mạnh gần như khắp vùng bắc Chăm Pa, vì thế cả một giai đoạn nghệ thuật Phật giáo đã bừng nở ở Chăm Pa trong suốt gần nửa thế kỷ, từ năm 875 đến năm 915 và đã để lại đến hôm nay nhiều công trình kiến trúc Phật giáo đặc sắc mà được các nhà khoa học đặt tên là giai đoạn Đồng Dương hay phong cách Đồng Dương. Ngày nay hậu duệ của triều đại Indrapura là dòng tộc họ Trà sống quanh tháp và các khu vực lân cận.

Đức Mẹ Trà Kiệu

Đức Mẹ Trà Kiệu là tên gọi mà người công giáo Việt Nam dùng để gọi Đức Maria trong đền thờ được xây dựng năm 1898, trên Ðồi Bửu Châu, phía đông Trà Kiệu, thuộc Xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, Tỉnh Quảng Nam. Ðền thờ được dâng kính Ðức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu, với mục đích ghi nhớ sự kiện Ðức Mẹ phù hộ cho giáo hữu nơi đây trong cuộc chiến chống lại Phong trào Cần Vương năm 1885.

Theo một thuyết, chữ Trà được lý giải do người xưa gọi người Chiêm Thành là Chùm Chà, chữ Chà được đọc trại ra là Trà, gợi ý nhắc nhở đó là phần đất xưa của người Chàm. Còn chữ Kiệu, do chữ Kiều đọc trại ra, vì kiều nghĩa là người ở xa đến, tức dân Ðàng Ngoài di cư lập nghiệp tại đây.

Cùng với phong trào di dân từ Miền Bắc và Miền Trung vào phía Nam, vùng đất Trà Kiệu trở thành nơi dừng chân của nhiều đoàn người di dân. Làng công giáo Trà Kiệu đã được dựng lên vào khoảng năm 1628.

Từ năm 1883, sau khi Vua Tự Ðức băng hà nổi lên Phong Trào Cần Vương nhằm đánh đuổi quân Pháp và tàn sát người Công giáo. Ngày 1 tháng 9 năm 1885, quân lính Văn Thân kéo đến vây làng Trà Kiệu, trong khi linh mục Bruyère (thuộc Hội Thừa sai Paris) và giáo dân không kịp chuẩn bị.
Từ năm 1883, sau khi Vua Tự Ðức băng hà nổi lên Phong Trào Cần Vương nhằm đánh đuổi quân Pháp và tàn sát người Công giáo. Ngày 1 tháng 9 năm 1885, quân lính Văn Thân kéo đến vây làng Trà Kiệu, trong khi linh mục Bruyère (thuộc Hội Thừa sai Paris) và giáo dân không kịp chuẩn bị.

Cuộc giao tranh giữa làng công giáo Trà Kiệu và quân lính văn thân kéo dài trong nhiều ngày. Tương quan lực lượng chênh lệch, phe Văn Thân mạnh hơn cả về nhân lực và vũ khí nên những người công giáo đã bày tượng Ðức Mẹ trên bàn thờ để cầu nguyện. Trong khi thanh niên lâm chiến, thì người già và trẻ con tập trung đọc kinh trước ảnh Đức Mẹ. Khi xong trận, họ lại quay về tạ ơn Mẹ. Khẩu hiệu tiến quân của giáo dân là 3 tên thánh: Giêsu, Maria, Giuse. Mỗi khi quân Văn thân tiến đến giáp lũy tre phóng thủ, thì đồng loạt tất cả giáo dân hô to khẩu hiệu và ào ra giao chiến.

Sau đó quân Vân Thân tăng viện thêm đại bác. Họ đặt đại bác trên Ðồi Kim Sơn và Bửu Châu để bắn vào nhà thờ, nơi được xem như là trung tâm xuất phát các trận phản công, đồng thời là biểu tượng của tinh thần kháng chiến của giáo hữu. Nhà thờ bị trúng đạn 1 lần nhưng tổn thất không đáng kể. Một khẩu đại bác đặt cách nhà thờ chừng 100 thước nhưng không sao bắn trúng được nhà thờ. Theo truyền tục thì võ quan chỉ huy đã thú nhận rằng ông ta cố tình nhắm bắn thì thấy “một người đàn bà xinh đẹp, bận áo trắng, đứng trên nóc nhà thờ nên không thể nào nhắm trúng được”. Thông tin này đã khiến quân lính trong phe Văn Thân xôn xao.

Ngày 21 tháng 9 năm 1885, phe giáo dân chiếm lại bộ chỉ huy của Văn Thân đặt trên Ðồi Bửu Châu. Trà Kiệu được giải vây từ đó. Ðêm đến, mọi người họp nhau trong nhà thờ sốt sắng tạ ơn Thiên Chúa, nhất là Thánh Mẫu Maria.
Ngày 21 tháng 9 năm 1885, phe giáo dân chiếm lại bộ chỉ huy của Văn Thân đặt trên Ðồi Bửu Châu. Trà Kiệu được giải vây từ đó. Ðêm đến, mọi người họp nhau trong nhà thờ sốt sắng tạ ơn Thiên Chúa, nhất là Thánh Mẫu Maria.

Vị linh mục và giáo dân nghe vậy đều nghĩ rằng phép lạ Ðức Mẹ làm, cũng mong được nhìn thấy, nhưng không ai trông thấy ngoại trừ một người đàn bà, tên là Chỉnh. Ðồng thời phe Văn Thân còn thấy nhiều trẻ nhỏ mặc áo đỏ áo trắng từ trên không trung bay xuống qua lũy tre xanh, tay cầm gươm bạc sáng ngời vả đánh giúp giáo dân.

Năm 1898, giáo dân Trà Kiệu xây cất một đền Thờ trên ngọn Ðồi Bửu Châu để ghi nhớ công ơn Đức mẹ. Từ ấy đến nay, Linh địa Đức Mẹ Trà Kiệu vốn nổi tiếng là linh thiêng, nhiều người đều đến cầu khẩn Mẹ lành và thường đều được ban ơn. Nhiều người tự cho rằng đã được khỏi bệnh bằng lá Non Trược trên Ðồi Bửu Châu.

Ngày 31 tháng 5 năm 1971, Giám mục Đà Nẵng Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi đã chọn Trà Kiệu làm Trung tâm Thánh Mẫu của Giáo phận Đà Nẵng. Và hằng năm , Giáo phận sẽ tổ chức ngày “Đại hội Đức Mẹ Trà Kiệu” vào ngày 31 tháng 5.

Tháp Chiên Đàn

Mang nghĩa là “cây lô hội” phiên âm từ chữ Chandan của tiếng Phạn, Chiên Đàn là một trong những ngôi tháp cổ của Champa. Tháp cổ Chiên Đàn nay thuộc làng Chiên Đàn, xã Tam An, thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Chạy dọc quốc lộ 1A cách thị xã Tam Kỳ 10km về phía Bắc, cách Đà Nẵng 60km về phía Nam, ta có thể dễ dàng bắt gặp tháp cổ Chiên Đàn.

Ở Chiên Đàn vẫn giữ được nguyên vẹn dáng dấp của một tháp Chăm cổ: là tháp vuông có các tầng mái, trong đó có tháp trung tâm cao hơn các tháp còn lại, các vòm cửa được vót nhọn lên phía trên như hình mũi giáo. Tháp cổ Chiên Đàn có dáng vẻ trang nhã và cổ điển gần giống với phong cách của Thánh địa Mỹ Sơn, song song đó lại có nét chuyển tiếp giao với phong cách tháp chăm Bình Định. Có thể nói, tháp cổ Chiên Đàn là một sự kết hợp kỳ lạ, độc đáo của những nghệ nhân Chămpa cổ.

Được xây dựng vào cuối thế kỷ X – đầu thế kỉ XI, tháp cổ Chiên Đàn nay không giữ được cấu trúc nguyên vẹn.
Được xây dựng vào cuối thế kỷ X – đầu thế kỉ XI, tháp cổ Chiên Đàn nay không giữ được cấu trúc nguyên vẹn.

Ngoài tháp trung tâm vẫn giữ nguyên dáng dấp hoàn chỉnh của kiến trúc Chămpa cổ với phần thân và chóp mái, thì hai tháp Bắc – Nam hai bên chỉ còn giữ được một phần thân. Theo các nhà nghiên cứu thì tháp Nam Chiên Đàn được xây dựng trước, kế tiếp là tháp giữa trung tâm và cuối cùng là tháp Bắc.

Mỗi tháp được gọi là một Kalan, tức là phần kiến trúc Quảng Nam nổi bật quan trọng nhất của tháp, còn được gọi là tiểu vũ trụ. Phần thân của tháp Chiên Đàn không có hoa văn trang trí. Phần chân tháp được bao giữ chắc chắn với nền móng được ốp bằng đá sa thạch, còn lưu lại được những tác phẩm điêu khắc bằng đá rất sinh động lấy cảm hứng từ sử thi Ramayana của Ấn Độ. Phần trang trí chân tường ở tháp Giữa còn tương đối nguyên vẹn nhất, đó là những tác phẩm được chạm trổ tinh vi. Các tác phẩm điêu khắc được thể hiện dưới các hình thù đa dạng, gồm hình những chiến sĩ cầm vũ khí trong tư thế canh gác hoặc chiến đấu, hình các vũ nữ mình trần đang nhảy múa uyển chuyển trong các vũ điệu Chămpa cổ xưa, ngoài ra còn có hình của những nữ thần, tượng linh vật như rắn Naga, chim thần Garuda, voi, sư tử, bia đá…

Tượng người và động vật ở Chiên Đàn còn bảo lưu đôi nét của nghệ thuật Trà Kiệu, giai đoạn cuối thế kỷ X, nhất là hình ảnh những con voi đầu quay ngang với đôi vai to. Có thể nói, các tác phẩm điêu khắc thuộc tháp cổ Chiên Đàn được đánh giá cao về giá trị nghệ thuật cũng như lịch sử, là niềm quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng như du khách.

Theo các nhà khảo cổ, hiện nay không có cụm ba tháp cổ nào có lượng hiện vật khai quật được nhiều như tháp cổ Chiên Đàn.
Theo các nhà khảo cổ, hiện nay không có cụm ba tháp cổ nào có lượng hiện vật khai quật được nhiều như tháp cổ Chiên Đàn.

Năm 1989, bức tympan sa thạch Mahisasuramardini (Nữ thần giết quỷ đầu trâu) được tìm thấy, khắc họa hình tượng nữ thần Devi (một hóa thân của nữ thần Uma) có sáu cánh tay, hai tay trên chắp lại trên đầu, bốn cánh tay còn lại cầm cung, tên, đinh ba, vòng. Nữ thần đạp trên lưng một con trâu, chân phải cong lại, chân phải duỗi ra trong tư thế rất dũng mãnh.

Một số tác phẩm điêu khắc tiêu biểu được phát hiện vào cuối năm 2000 có thể kể đến là: bức cham nổi hai vị thần, tượng nữ thần ngồi xếp bằng, tượng nam thần ngồi xếp bằng, bức chạm nổi hình lá đề, tượng tu sĩ Brahman, tượng nhạc công hay Trang trí đầu makara phun ra người… Tất cả những hiện vật cổ khai quật được hầu hết đều được làm bằng sa thạch màu vàng đất với các kích thước khác nhau. Đặc biệt, giữa năm 1997, một tấm bia của khu tháp này đã được các nhà khảo cổ đã khai quật. Đó là một tảng đá lớn, được mài bằng một mặt, trên đó có khắc 8 dòng cổ tự Sanskrit – có gốc tích từ chữ Ấn Độ. Theo thời gian, những tác phẩm điêu khắc ở Chiên Đàn có sự tiến hóa và phát triển rõ nét.

Tháp cổ Chiên Đàn ngày nay uy nghi trầm mặc, khiêm nhường đứng giữa dòng chảy lịch sử như một chứng nhân cho một thời đại cổ hào hùng.

Tháp Bằng An

Tháp Bằng An hay Bàng An là một trong những tháp cổ của người Chăm hiện còn sót lại đến ngày nay. Tháp tọa lạc ở làng Bằng An, xã Điện An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Nơi đây cách thành phố Đà Nẵng khoảng 30km và cách phố cổ Hội An khoảng 14km.

Tháp Bằng An là tháp Chăm cổ còn sót lại ở tỉnh Quảng Nam. Về niên đại của tháp, có rất nhiều ý kiến khác nhau. Theo nội dung tấm bia, tháp được xây dựng vào cuối thế kỷ IX – đầu thế kỷ X dưới triều đại Vua Chăm Pa là Bhadravarman II. Nhà vua đã cho xây dựng một đền thờ tên là Linga Paramesvara để thờ thần Shiva.

Để đến đây, bạn có thể đi xe máy, thuê taxi hay đi ô tô theo đoàn đi du lịch tại Quảng Nam. Đường đi tới tháp khá dễ dàng, khu tham quan có bãi đỗ xe rộng rãi và cách quốc lộ 1A khoảng 1,2 km.
Để đến đây, bạn có thể đi xe máy, thuê taxi hay đi ô tô theo đoàn đi du lịch tại Quảng Nam. Đường đi tới tháp khá dễ dàng, khu tham quan có bãi đỗ xe rộng rãi và cách quốc lộ 1A khoảng 1,2 km.

Cấu trúc của tháp Bằng An được chia làm 2 phần đó là tiền sảnh và điện thờ. Phần tiền sảnh khá dài với cửa ra vào chính ở hướng Đông. Hai bên tiền sảnh đều có cửa phụ nhưng đã được trùng tu lại thành 2 cửa sổ vào năm 1940. Đế của tiền sảnh có chiều cao 3m và loe rộng hơn các đường giật của khối xây, kết thúc bằng các gờ chạy ngang xung quanh.

Phần thân tiền sảnh là các góc tường thẳng đứng. Phía bên trên phần thân được thiết kế như một đài hoa. Mái tiền sảnh là một khối chóp có bốn mặt cong thu dần về phía đỉnh. Mặc dù phần đỉnh đã sạt lở và mất các chi tiết trang trí ở cạnh nhưng toàn bộ tiền sảnh của tháp đến ngày nay vẫn có khá nguyên vẹn.

Tháp Bằng An có kiến trúc Quảng Nam độc đáo mang đậm dấu ấn Chăm Pa ở Quảng Nam. Điện thờ tháp được xây theo hình bát giác, ít hoa văn và không có các yếu tố trang trí tượng trưng khác như: cửa giả, cột ốp, hoa văn. Nhìn từ xa, bạn sẽ thấy được sự rõ rệt của 3 phần đế, thân bát giác và mái hình chóp tạo bởi tám mặt cong thu dần về phía đỉnh. Hình dáng của điện thờ giống như một khối Linga khổng lồ cao 20m với các mặt còn lại gợi nên hình ảnh Yoni.

Bên trong điện thờ được đặt một linga bằng đá là biểu tượng của thần Shiva nhưng đến nay chỉ còn bệ thờ. Bên ngoài tháp là 2 pho tượng Gajasimha bằng sa thạch đeo lục lạc, được xem là những vị thần bảo vệ cho tháp. Có thể nói tháp Bằng An chính là tác phẩm điêu khắc bằng gạch lớn nhất trong lịch sử điêu khắc Chăm Pa thể hiện bộ ngẫu tượng sinh thực khí Linga – Yoni.

Tháp Bằng An là một di tích có giá trị cao về mặt lịch sử, tôn giáo tín ngưỡng của người Chăm. Nếu có dịp đến với Hội An, hãy đến với khu di tích này để tìm hiểu về văn hóa, nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Chăm Pa bạn nhé!

Tháp Khương Mỹ

Tháp Khương Mỹ là di tích văn hóa Chăm pa còn sót lại thuộc thôn 4, xã Tam Xuân 1, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Khu tháp nằm cách quốc lộ 1A (đoạn đường tránh Thành phố Tam Kỳ) khoảng 200m về phía tây theo hướng từ thành phố Tam Kỳ vào.

Nhóm tháp Khương Mỹ gồm 3 công trình kiến trúc xếp thành hàng ngang theo trục Bắc-Nam. Đây là kiểu tháp Champa truyền thống với mặt bằng gần vuông, cửa ra vào ở hướng đông, mái tháp gồm 3 tầng, tầng trên là hình ảnh thu nhỏ của tầng dưới, trên cùng có chóp tháp bằng sa thạch. Mỗi tháp có một cửa ra vào và 5 cửa giả. Vòm cuốn trên các cửa uốn hình vòng cung, trang trí hoa văn thảo mộc cách điệu, đầu lá uốn cong xoắn xuýt, lá xếp thành nhiều tầng, thu nhỏ dần lên trên, phần đỉnh của mỗi vòm cuốn là một tổ hợp cành lá uốn thành hình lá đề. Trên mỗi mặt tường có 5 trụ ốp tường trang trí hoa văn thảo mộc cuộn thành những chữ S nối tiếp nhau, xen kẽ với các mảng tường trang trí hình thoi nối tiếp nhau từ chân đến đỉnh tường.

Nhóm Khương Mỹ gồm có 3 tháp, cửa ra vào ở hướng Đông, là kiểu tháp Champa truyền thống với mặt bằng gần vuông, mái tháp gồm 3 tầng, tầng trên là hình ảnh thu nhỏ của tầng dưới, trên cùng có chóp tháp bằng sa thạch.
Nhóm Khương Mỹ gồm có 3 tháp, cửa ra vào ở hướng Đông, là kiểu tháp Champa truyền thống với mặt bằng gần vuông, mái tháp gồm 3 tầng, tầng trên là hình ảnh thu nhỏ của tầng dưới, trên cùng có chóp tháp bằng sa thạch.

Tại Khương Mỹ, vào năm 1918, các nhà khảo cổ người Pháp đã tìm thấy một thành bậc cấp bằng sa thạch có chạm cảnh hai người đang đấu vật, trong đó gương mặt của người ở bên phải rất dữ tợn, miệng có răng nanh; một số nhà nghiên cứu cho rằng đây là trích đoạn cảnh chiến đấu của Rama và quỷ vương Ravana trong trường ca Ramayana.

Được sự cho phép của Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch, đầu tháng 7 – 2007, Trung tâm Bảo tồn Di Tích tỉnh Quảng Nam đã phối hợp với khoa Sử Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Hà Nội tiến hành khai quật phát lộ chân tháp Khương Mỹ để chuẩn bị cho việc tu bổ di tích.

Do tìm thấy nhiều tác phẩm điêu khắc mang tính chất Vishnu giáo, lại vắng bóng Siva và Brahma, nên một số nhà nghiên cứu cho rằng Khương Mỹ là một khu đền thờ thần Vishnu. Tuy một số lượng tác phẩm điêu khắc ở Khương Mỹ không nhiều, nhưng chúng thể hiện được sự chuyển tiếp từ những nét mạng mẽ, dữ dội của phong cách Đồng Dương sang những nét nhẹ nhàng, trang nhã của phong cách Trà Kiệu, do đó các nhà nghiên cứu đã xếp chúng vào phong cách riêng: Phong cách Khương Mỹ – đầu thế kỷ X.

Nhà thờ Hội An

Nhà thờ Hội An là một nhà thờ Công giáo tọa lạc tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam thuộc Giáo phận Đà Nẵng. Ngôi nhà thờ hiện tại được xây dựng vào năm 1965, nhưng lịch sử của nó còn kéo dài trước đó nữa vì đây là nhà thờ của giáo xứ được coi là lâu đời nhất Việt Nam.

Năm 1615, ba tu sĩ Dòng Tên là linh mục Francesco Buzomi (người Ý), linh mục Diego Carvalho (Bồ Đào Nha) và tu huynh Antonio Dias (Bồ Đào Nha), cùng hai người Nhật Bản là Jose và Paulo đến Tourain (Đà Nẵng) rồi vào Faifo (Hội An) để truyền giáo cũng như chăm sóc mục vụ cho một cộng đoàn tín hữu Nhật tại đây. Ở Hội An, việc giảng đạo không thuận lợi vì đa phần người Hội An lúc này là người nước ngoài, làm ăn, buôn bán không quan tâm mấy đến việc giảng đạo, vì vậy các nhà truyền giáo đã đến Thanh Chiêm (cách Hội An 10 km) để truyền đạo cho người địa phương. Đến tháng 4 năm 1615 đã có 10 giáo dân ở đây được rửa tội và đến năm sau, con số này đã lên tới hơn 300 người. Khi thấy công việc ở đây trôi chảy, các giáo sĩ truyền giáo đã quyết định ở lại đây để phát triển công việc truyền giáo.

Ngày 18 tháng 1 năm 1616 giáo sĩ người Ý Francisco Busomi thành lập giáo xứ Hội An và xây dựng nhà thờ ở Hội An.
Ngày 18 tháng 1 năm 1616 giáo sĩ người Ý Francisco Busomi thành lập giáo xứ Hội An và xây dựng nhà thờ ở Hội An.

Nhà thờ tọa lạc tại số 02 đường Nguyễn Trường Tộ (thời Pháp gọi là đường Gouverneur Général Cherles), có khuôn viên rộng, xung quanh có tường rào xây bằng gạch. Nhà thờ có cổng tam quan cách điệu hình mái nhà, đỉnh cổng có đặt hình cây Thánh giá. Sau cổng có sân rộng. Bên trái sân là một hang đá lớn dưới tán cây cổ thụ, bên phải sân đồi cỏ – giả sơn và khu mộ các giáo sĩ Phương Tây.

Nhà thờ được xây dựng theo kiểu kiến trúc Gothic, kết hợp với lối kiến trúc Quảng Nam là nhà truyền thống của Hội An. Nội thất bên trong nhà thờ được phân thành 3 không gian chính với các chức năng như khu vực dành cho giáo dân ngồi, cung thánh và phòng áo.

Khu dành cho giáo dân ngồi có bốn dãy ghế, trên tường khu treo các bức phù điêu mô tả hành trình khổ nạn của Chúa Jesus. Khu Cung thánh thiết kế cao hơn xung quanh, chính giữa là bàn lớn dùng để cử hành Thánh lễ, được đặt trên nền cao với ba bậc cấp. Sát tường phía sau cung thánh là Thánh giá và tượng Chúa Cứu Thế. Phòng áo nằm ở phía sau Cung thánh, là nơi cất giữ y phục hành lễ của linh mục và trang phục của các lễ sinh. Toàn bộ nhà thờ được lắp hệ thống gương màu thể hiện không gian thiêng liêng hơn, thanh thoát hơn.

Năm 1914, một số giáo dân đã sửa và xây dựng lại nhà thờ mới bằng tranh, gỗ. Năm 1935, nhà thờ được thay thế bằng ngôi nhà thờ kiên cố theo kiểu kiến trúc Gothic. Năm 1965, ngôi nhà thờ này bị gỡ bỏ và thay vào đó là ngôi nhà thờ mới với kiểu dáng như hiện nay.
Năm 1914, một số giáo dân đã sửa và xây dựng lại nhà thờ mới bằng tranh, gỗ. Năm 1935, nhà thờ được thay thế bằng ngôi nhà thờ kiên cố theo kiểu kiến trúc Gothic. Năm 1965, ngôi nhà thờ này bị gỡ bỏ và thay vào đó là ngôi nhà thờ mới với kiểu dáng như hiện nay.

Khu mộ các giáo sĩ phương Tây nằm trong khuôn viên nhà thờ Hội An. Đây là một trong số những di tích hiếm hoi còn lại ở Hội An liên quan đến quá trình truyền bá đạo Công giáo của các giáo sĩ Dòng Tên hoặc Dòng Thừa sai phương Tây tại Việt Nam đầu thế kỷ XVII đến thế kỷ XX.

Ngày 7 tháng 4 năm 2008, nhà thờ Hội An và khu mộ các giáo sĩ phương Tây, thuộc phường Cẩm Phô, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam được Chủ tịch Ủy ban nhân dân Tỉnh Quảng Nam Nguyễn Đức Hải ký quyết định công nhận danh hiệu Di tích Lịch sử và Văn hóa cấp tỉnh-Thành phố. Nhà thờ Hội An từng là nơi cư trú, truyền giáo cho các giáo sĩ Dòng Tên, Hội Thừa sai Paris ở Đàng Trong. Đây cũng là nơi học tiếng Việt của các giáo sĩ và phát triển chữ Quốc ngữ và là nơi giao lưu, tiếp xúc văn hoá Đông – Tây tại Hội An. Nhà thờ cũng thường được các giáo sĩ tập trung những lễ vật là sản phẩm của nền khoa học phương Tây để dâng tặng cho các Chúa Nguyễn.

Phố cổ Hội An

Phố cổ Hội An là một đô thị cổ nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, thuộc vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam, Việt Nam, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 30 km về phía Nam. Nhờ những yếu tố địa lý và khí hậu thuận lợi, Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, nơi gặp gỡ của những thuyền buôn Nhật Bản, Trung Quốc và phương Tây trong suốt thế kỷ XVII và XVIII.

Một lần du lịch Hội An sẽ làm say đắm lòng du khách bởi những nét đẹp trường tồn cùng thời gian, vô cùng mộc mạc, bình dị.

Khu phố cổ nổi tiếng này vẫn giữ được gần như nguyên vẹn với hơn 1000 di tích kiến trúc từ phố xá, nhà cửa, hội quán, đình, chùa, miếu, nhà thờ tộc, giếng cổ… đến các món ăn truyền thống, tâm hồn của người dân nơi đây.
Khu phố cổ nổi tiếng này vẫn giữ được gần như nguyên vẹn với hơn 1000 di tích kiến trúc từ phố xá, nhà cửa, hội quán, đình, chùa, miếu, nhà thờ tộc, giếng cổ… đến các món ăn truyền thống, tâm hồn của người dân nơi đây.

Kiểu nhà ở phổ biến nhất ở Hội An chính là những ngôi nhà phố một hoặc hai tầng với đặc trưng chiều ngang hẹp, chiều sâu rất dài tạo nên kiểu nhà hình ống. Những vật liệu chính dùng để xây dựng nhà ở đây đều có sức chịu lực và độ bền cao do đặc điểm khí hậu khắc nghiệt và bão lụt hàng năm của vùng này. Thông thường, các ngôi nhà có kết cấu kiểu nhà khung gỗ, hai bên có tường gạch ngăn cách. Khuôn viên trung bình của các ngôi nhà có chiều ngang khoảng 4 đến 8 mét, chiều sâu khoảng 10 đến 40 m, biến thiên theo từng tuyến phố. Bố cục mặt bằng phổ biến của những ngôi nhà ở đây gồm: vỉa hè, hiên, nhà chính, nhà phụ, hiên, nhà cầu và sân trong, hiên, nhà sau ba gian, vườn sau.

Thực chất, nhà phố ở Hội An bao gồm nhiều nếp nhà bố trí theo chiều sâu và cấu thành không gian kiến trúc gồm 3 phần: không gian buôn bán, không gian sinh hoạt và không gian thờ cúng. Cách phân chia này phù hợp với mặt bằng hẹp và kết hợp nhiều công năng của ngôi nhà. Có thể nhận thấy đây là một sản phẩm kiến trúc Quảng Nam mang tính văn hóa khu vực.

Những ngôi nhà ở Hội An hầu hết được làm theo dạng hai mái, đa số nhà chính và nhà phụ không chung một mái mà là hai nếp mái kế tiếp nhau. Rất ít trường hợp mái nhà chính phủ lên cả phần nhà phụ. Ngược lại, đa số nhà cầu được lợp theo kiểu bốn mái.

Khi lợp xong mái, các viên ngói được cố định bằng vữa, tạo thành những dải ngói nhô lên dọc xuôi theo mái, khiến toàn bộ mái toát nên một vẻ cứng cáp, mạnh mẽ.
Khi lợp xong mái, các viên ngói được cố định bằng vữa, tạo thành những dải ngói nhô lên dọc xuôi theo mái, khiến toàn bộ mái toát nên một vẻ cứng cáp, mạnh mẽ.

Trên mặt bằng tổng thể thì nhà trước, nhà cầu và nhà sau được lợp bằng những mái riêng biệt. Ngói ở Hội An là loại ngói làm từ đất, mỏng, nung thô, mang hình vuông, mỗi cạnh khoảng 22cm và có dạng hơi cong. Khi lợp, đầu tiên người ta xếp một hàng ngói ngửa lên và sau đó tiếp tới một hàng ngói úp xuống. Cách lợp này được gọi là kiểu lợp ngói âm dương.

Ở trên đỉnh mái, phần nóc được xây cao lên hình chữ nhật như một cái hộp, cũng có một số trường hợp hai bên tường hồi cũng được xây cao hẳn làm cho toàn bộ tổng thể dường như bị mất cân đối. Hình thức và cách trang trí của tường hồi luôn gây một ấn tượng mạnh và là yếu tố tạo ra giá trị rất riêng của phố cổ Hội An.

Đường phố ở khu phố cổ được bố trí ngang dọc theo kiểu bàn cờ với những con phố ngắn và hẹp, uốn lượn, ôm lấy những ngôi nhà. Dạo bước chân qua từng con phố nhỏ xinh và yên bình ấy, du khách không chỉ được thưởng thức những món ăn ngon mà còn thấy được một phần cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người dân phố Hội, một cuộc sống yên bình, giản dị.

Blog’s Nguyễn Kiều Việt Như, tổng hợp