Kiến trúc đẹp tại Trà Vinh được khách du lịch ghé thăm nhiều nhất

0
36

Trà Vinh là vùng lãnh thổ ven biển ở đồng bằng sông Cửu Long, miền Nam Việt Nam. Tỉnh lỵ là thành phố Trà Vinh, nằm trên Quốc lộ 53, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 130 km và cách thành phố Cần Thơ 100 km. Thành phố Trà Vinh có quyết định thành lập đặc khu trên cơ sở toàn bộ tỉnh Trà Vinh và thị xã Trà Vinh từ tháng 3 năm 2010.

KHÁM PHÁ KIẾN TRÚC VIỆT NAM

Du lịch Trà Vinh ngày càng được phát triển mạnh mẽ, tuy là vùng đất trẻ nhưng Trà Vinh có kho tàng văn hoá đa dạng, đặc biệt là văn hoá vật thể và phi vật thể của người Khmer. Người Khmer có chữ viết riêng, các lễ hội truyền thống như Chol chnam thmay (mừng năm mới), Dolta (lễ cúng ông bà), Ok Om Bok (lễ cúng trăng), Dâng bông, Dâng phước và các phong tục tập quán có giá trị văn hoá khác của người Kinh, người Hoa như Lễ hội nghinh Ông tại Mỹ Long (lễ hội nghinh ông diễn ra vào ngày 10 đến 12 tháng 5 hằng năm), Vu lan thắng hội, Tiết Trùng Cửu,…

Di tích ao Bà Om ngàn năm soi bóng cổ tự là một trong những niềm tự hào của người dân Trà Vinh.
Di tích ao Bà Om ngàn năm soi bóng cổ tự là một trong những niềm tự hào của người dân Trà Vinh.

Người Khmer còn xây dựng trên địa bàn Trà Vinh nhiều chùa có kiến trúc Trà Vinh độc đáo và hoà quyện thiên nhiên, tiêu biểu là chùa Âng, toạ lạc tên khu đất rộng 4 ha, trong thắng cảnh Ao Bà Om. Theo thống kê trên địa bàn Trà Vinh có tới 142 chùa Khmer, vượt xa số lượng của người Kinh, người Hoa và của các dân tộc khác hiện có trên địa bàn Trà Vinh cộng lại.

Chùa Âng

Chùa Âng (tên Khmer là Angkorajaborey) là một ngôi chùa cổ trong hệ thống chùa Khmer của tỉnh Trà Vinh; hiện tọa lạc bên quốc lộ 53, thuộc khóm 4, phường 8, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh, Việt Nam. Chùa nằm cách trung tâm thành phố khoảng 5 km, nằm trong khuôn viên thắng cảnh Ao Bà Om, và đối diện với Bảo tàng Văn hóa dân tộc Khmer của tỉnh.

Đây là một trong những ngôi chùa tiêu biểu trong hệ thống 141 ngôi chùa Khmer ở Trà Vinh. Theo Bảng Di tích lịch sử chùa Âng, thì chùa có từ năm 990… Đến năm 1695, ngôi chính điện được xây dựng lại bằng tre lá. Năm 1842, chùa được xây dựng lại bằng gỗ quý (rui, mè và 60 cây cột), lợp ngói và tường xây. Sau đó, chùa còn được trùng tu vài lần nữa.

Chùa nằm trong khuôn viên có diện tích khoảng 4 ha, có hào nước sâu bao bọc, và được xây dựng theo lối thiết kế kiến trúc-trang trí chùa Khmer Nam Bộ.
Chùa nằm trong khuôn viên có diện tích khoảng 4 ha, có hào nước sâu bao bọc, và được xây dựng theo lối thiết kế kiến trúc-trang trí chùa Khmer Nam Bộ.

Cổng chùa được xây dựng với ba ngọn tháp ở trên, có đắp hình chằn. Hai bên trụ cổng là hình vũ nữ Kẽn naarr và tượng người đầu chim (Krũd).

Chánh điện quay về hướng Đông, tọa lạc nên một nền cao 2 m. Mái của chính điện được cấu tạo gồm ba cấp, hai mái trên cùng thì dốc và cao hơn mái còn lại. Các gò mái có thần rắn Naga, đuôi cong vút, tượng trưng cho sự dũng mãnh vĩnh cửu. Ở các đầu cột là những tượng vũ nữ Kẽn naarr và tượng người đầu chim (Krũd) với hai tay chống đỡ mái. Quanh chính điện có trụ cột, hàng rào với đầu thần Bayon bốn mặt. Ngoài ra ở đây còn có tượng chằn Yeak mặc áo giáp với khuôn mặt dữ dằn….

Ngày 25 tháng 8 năm 1994, chùa Âng đã được Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
Ngày 25 tháng 8 năm 1994, chùa Âng đã được Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

Ngoài ra, trong khuôn viên chùa còn có các hạng mục công trình khác như: trai đường, giảng đường, các Tăng xá và các tháp chứa di cốt…

Như bao ngôi chùa thuộc hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer khác, bên trong chính điện chùa Âng cũng chỉ thờ duy nhất là Phật Thích Ca. Bệ thờ Phật rộng gần 30 m² gồm bốn bậc. Tượng Phật chính cao 2,1 m. Xung quanh có khoảng 50 tượng Phật khác nhỏ hơn. Ba phía vách chính điện có các bức tranh vẽ kể lại cuộc đời đức Phật Thích Ca. Trần chính điện được trang trí bốn bức bích họa lớn theo chủ đề: Phật Thích Ca đản sinh, xuất gia, đắc đạo và nhập niết bàn. Và cũng như nhiều ngôi chùa Khmer khác, chùa Angkorajaborey không chỉ là nơi tu hành của các vị sư, là nơi thanh niên Khmer đến tu học, mà còn là một trung tâm văn hóa. Hàng năm, lễ hội Ok Om Bok (rằm tháng 10 âm lịch) là lễ hội lớn nhất của chùa.

Chùa Watsamrongek

Với tuổi đời lên đến hơn 1.300 năm, chùa Watsamrongek (TP. Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh) khoác lên mình một vẻ đẹp cổ kính, vô cùng độc đáo.

Chùa Watsamrongek tọa lạc ở phường 8, ngay sát vòng xoay tượng đài tỉnh Trà Vinh, là một trong những ngôi chùa cổ nhất trong hệ thống chùa Khmer ở Trà Vinh. Chùa được xây dựng lần đầu tiên vào năm 642, đến nay đã 1.377 năm

Ngôi chùa khoác lên mình một vẻ đẹp cổ kính với kiến trúc độc đáo đặc trưng của đồng bào dân tộc Khmer.
Ngôi chùa khoác lên mình một vẻ đẹp cổ kính với kiến trúc độc đáo đặc trưng của đồng bào dân tộc Khmer.

Bia đá và những bức tượng ghi lại sự tích về Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Những phù điêu mang đậm nét kiến trúc Trà Vinh độc đáo Khmer Nam Bộ.

Kiến trúc tại Trà Vinh tuyệt đẹp bên trong một trai đường của chùa. Dãy nhà này gọi là “cốc” (phiên âm đọc được theo tiếng Việt) là nơi dành cho các sư của chùa nghỉ ngơi và sinh hoạt.

Chùa Hang

Chùa Kompông Chrây (có nghĩa là “bến cây đa”), còn có tên là Kompongnikroth (Tên chính của chùa là Kompông Chrây, vì hồi xưa phía trước cổng chùà có một bến đò ở dưới gốc cây đa). Sau này, người dân thấy cổng phụ được thiết kế như một cái hang nên người ta mới gọi là “Chùa Hang.” Ngôi chùa thuộc hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer; tọa lạc tại khóm 4, thị trấn Châu Thành, thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, Việt Nam.

Hai bên cổng chính hai tượng chằn Yak to bằng người thật. Cổng phụ nằm ven tỉnh lộ 36, xây dựng vòm cuốn, tường rất dày, dài 12 m, có hình dạng giống như cái hang, nên người ta quen gọi là chùa Hang.

Cổng chính Kompông Chrây hướng ra phía bờ sông.
Cổng chính Kompông Chrây hướng ra phía bờ sông.

Chánh điện chùa tọa lạc trên nền cao 3 m, có nhiều bậc cấp dẫn lên, được trang trí lộng lẫy với nhiều hoa văn, họa tiết. Mái của chính điện được cấu tạo gồm nhiều lớp chồng lên nhau làm nên khoảng không gian cao vút, đỉnh nhọn như một chóp tháp. Ở các đầu cột đều có tượng vũ nữ Kẽn naarr dang đôi tay chống đỡ mái. Bên trong chánh điện là hai hàng cột cao lớn uy nghi. Giữa chánh điện là bàn thờ. Tượng Phật Thích Ca to lớn đặt trên cao, phía dưới là những tượng Phật Thích Ca nhỏ hơn trong nhiều tư thế khác nhau.

Cột cờ trước chánh điện chùa có cấu trúc tượng hình rắn thần Nara 7 đầu tượng trưng cho 7 ngày 7 đêm chuyên tâm bảo vệ Phật Thích Ca ngồi tu luyện.

Trước kia, trong khuôn viên chùa có rất nhiều dơi. Tết Mậu Thân (1968), bom đạn đã làm chùa hư hại nặng, khiến đàn dơi bay mất. Ngày nay, có nhiều loại chim đến trú ẩn ở nơi ấy, trong đó nhiều nhất là cò.

Điều đặc biệt nhất ở chùa Kompông Chrây là trong chùa có hẳn một xưởng thủ công điêu khắc gỗ.
Điều đặc biệt nhất ở chùa Kompông Chrây là trong chùa có hẳn một xưởng thủ công điêu khắc gỗ.

Cũng giống như bao ngôi chùa thuộc hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer khác, chùa Kompông Chrây có vai trò rất quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Khmer ở đây. Bởi chùa không chỉ là nơi tu hành của các vị sư, mà còn là nơi giáo dục đạo đức cho các thanh niên Khmer và bảo tồn truyền thống văn hóa nghệ thuật của dân tộc.

Theo lời sư cả Thạch Suông, vì trong chiến tranh, nhiều cây cổ thụ trong vườn chùa đã bị tàn phá, và hiện còn để lại trong lòng đất nhiều bộ gốc rễ nguyên vẹn với nhiều hình thù kỳ thú. Sư cả nghĩ rằng nếu được các bàn tay tài hoa của các nghệ nhân khắc gỗ điểm xuyết, chắc chắn nó sẽ trở thành những tác phẩm nghệ thuật quý giá. Từ ý nghĩ đó, sư cả đã tìm cách mời anh Thạch Buôl (một nghệ nhân điêu khắc gỗ nổi tiếng, quê ở Vĩnh Long) về chùa mở lớp dạy nghề cho các sư sãi và các thanh niên có năng khiếu. Từ đó cho đến nay, chùa đã đào tạo trên 20 học viên lành nghề. Những tác phẩm điêu khắc ở chùa rất đa dạng và phong phú như tượng Phật, tượng cầm thú, v.v… rất được du khách trong và ngoài nước tán thưởng.

Nhà thờ Mặc Bắc

Nhà thờ Công giáo Mặc Bắc, tọa lạc tại thị trấn Cầu Quan, huyện Tiểu Cần; cách thành phố Trà Vinh 30 km và cách thị trấn Tiểu Cần 7 km đều theo hướng tây nam, cách bờ trái sông Hậu 3 km về hướng đông. Đây là ngôi thánh đường có qui mô lớn nhất, niên đại cao nhất thuộc một giáo xứ Công giáo không chỉ lớn nhất trên địa bàn tỉnh Trà Vinh, mà còn là một trong những giáo xứ có đông giáo dân nhất khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Khuôn viên nhà thờ Mặc Bắc rộng hơn 01 ha, được che mát bởi những hàng sao cổ thụ, nằm ở vị trí trung tâm con giồng đất cát cao ráo, cổng chính nhìn ra ngã ba giao nhau giữa quốc lộ 60 và con đường dẫn ra chợ và bến tàu Cầu Quan sầm uất.

Nhà thờ Mặc Bắc là một công trình kiến trúc nghệ thuật tôn giáo nổi tiếng, là sự kết hợp phong cách kiến trúc La Mã, kiến trúc Pháp và kiến trúc truyền thống người Việt cuối thế kỷ XIX.
Nhà thờ Mặc Bắc là một công trình kiến trúc nghệ thuật tôn giáo nổi tiếng, là sự kết hợp phong cách kiến trúc La Mã, kiến trúc Pháp và kiến trúc truyền thống người Việt cuối thế kỷ XIX.

Vào thập niên 1860, sau khi thực dân Pháp xâm chiếm và đặt ách cai trị lên vùng đất Nam bộ, các giáo xứ Công giáo ra hoạt động công khai và giáo xứ Mặc Bắc phát triển dần về phía trung tâm con giồng cát cao ráo, cặp sông Cần Chong, thuận tiện giao thông thủy bộ để phát triển. Chính quyền thực dân xây dựng một cầu cảng nhỏ trên bến Cần Chong để các quan đầu tỉnh người Pháp từ Trà Vinh có thể dễ dàng tới thăm viếng, xem lễ. Từ đó, địa danh Cầu Quan hình thành và giáo xứ Mặc Bắc còn có tên gọi khác là giáo xứ Cầu Quan.

Được chính quyền thực dân hỗ trợ, Vương cung thánh đường hay Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn được khởi công xây dựng năm 1877, hoàn thành năm 1880. Sáu năm sau, 1886, Nhà thờ Mặc Bắc Trà Vinh được khởi công xây dựng. Bản vẽ của nhà thờ Mặc Bắc chính là bản vẽ của Nhà thờ Đức Bà, do kiến trúc sư J.Bourad thiết kế, được thu nhỏ lại theo tỷ lệ 70/100. Từ bản vẽ này, viên kỹ sư người Pháp Errard chịu trách nhiệm chung nhưng người trực tiếp chỉ huy, đôn đốc việc thi công là ông Trùm xứ Nguyễn Văn Thăng. Toàn bộ vật tư từ các vì kèo và bộ khung mái bằng thép, xi măng, ngói, kính màu, gạch xây, gạch lót nền, bộ chuông đồng 6 âm (đô, rê, si, pha, sol, la)… đều được sản xuất tại Pháp vận chuyển bằng tàu thủy sang.

Khi thiết kế mái ngói, kiến trúc sư J.Bourad đã thành công trong việc kết hợp hài hòa giữa kiểu mái ngói cung đình Việt với mái ngói nhà thờ phương Tây.

Trên tường phía dưới và trên cao của nhà thờ Mặc Bắc có các cửa sổ được lắp đặt các tác phẩm nghệ thuật bằng kính màu, có nội dung diễn tả các nhân vật thánh và sự kiện trong Kinh Thánh, nhưng cũng xen kẽ rất nhiều họa tiết và hình tượng phương Đông. Hệ thống kính màu được thiết kế rất đặc sắc và phối sáng hài hòa, tạo nên một hiệu ứng ánh sáng tuyệt vời. Trong lòng nhà thờ, một làn ánh sáng nhẹ nhàng, tạo bầu không khí trang nghiêm, an bình… Ánh sáng huyền ảo cũng làm cho các chi tiết kiến trúc Trà Vinh, nội thất bên trong thánh đường nổi bật và đẹp hơn.

Ánh sáng từ những chiếc đèn chùm được thiết kế với những hoa văn theo kiểu Roman – Gotich tạo nên một không gian lung linh, trang trọng và thánh thiện.

Bàn thờ phía cung thánh trong nhà thờ Mặc Bắc được làm bằng đá cẩm thạch nguyên khối với các thiên thần được tạc trên khối đá bàn thờ. Bệ đỡ bàn thờ cũng là tác phẩm điêu khắc mỹ thuật tuyệt đẹp diễn tả các sự kiện trong Kinh Thánh.
Bàn thờ phía cung thánh trong nhà thờ Mặc Bắc được làm bằng đá cẩm thạch nguyên khối với các thiên thần được tạc trên khối đá bàn thờ. Bệ đỡ bàn thờ cũng là tác phẩm điêu khắc mỹ thuật tuyệt đẹp diễn tả các sự kiện trong Kinh Thánh.

Phía trước mặt tiền là một sảnh lộ thiên có chiều dài bằng với chiều ngang của ngôi nhà thờ, cao 1,2 m hơi thấp hơn nền nhà thờ một chút, rộng 4 m. Đây là nơi diễn ra các nghi thức ngoài trời trong những dịp thánh lễ.

Cách một khoảng sân phía trước là hồ nước hình vuông có diện tích hơn 150 m2 vừa tạo cảnh nông thôn Việt Nam vừa giúp cho giáo dân từ các thôn xóm, băng đồng đi bộ đến rửa chân tay sạch sẽ trước khi vào nhà thờ xem lễ.

Nhà xứ là một kiến trúc hai tầng, với cầu thang gỗ, sàn lầu gỗ được xây dựng phía đông ngôi thánh đường, dành làm nơi ở cho các vị linh mục, thầy giúp việc và là nơi hội họp của ban quới chức giáo xứ.

Lễ Phục sinh năm 1888, sau hơn 2 năm thi công, Nhà thờ Mặc Bắc được khánh thành với diện tích 24 x 60 m và hai tháp chuông cao 32 m được. Đây là nhà thờ Công giáo lớn thứ hai Nam bộ vào cuối thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX, chỉ sau Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn nên được mệnh danh là “Vương cung thánh đường miền Tây Nam bộ”.

Sau 130 năm tồn tại, Nhà thờ Mặc Bắc đã trải qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo nhưng vẫn giữ được dáng vẻ như thiết kế ban đầu. Riêng hồ nước đã được san lấp vừa tránh nguy hiểm cho trẻ nhỏ vừa tạo thêm diện tích phần sân trước cho các hoạt động khác. Một số hạng mục được xây dựng mới, đáp ứng yêu cầu phát triển của một giáo xứ có lịch sử hình thành, phát triển lâu dài nhưng vẫn hài hòa trong một cảnh quan chung.

Chùa Cò

Chùa Cò có tên thật là chùa Nodol, hay chùa Giồng nhưng người Khmer gọi là Wat Phnô Đôn vì chung quanh có nhiều dừa (tiếng Khmer Wat là chùa, Phnô là giồng cát, Đôn là cây dừa). Người dân quen gọi là chùa Cò vì hơn một trăm năm nay nơi này đã trở thành nơi cư trú của hàng ngàn con chim cò các loại như: cò, cồng cộc, bồ câu… trong đó đông nhất là họ nhà cò với rất nhiều loại: cò trắng, cò quắm, cò đầu đỏ, cò đầu vàng, cò mỏ vàng, cò mỏ đen…

Chùa Cò tọa lạc tại ấp Cây Da – xã Đại An – huyện Tà Cú, nằm cách Tp.Trà Vinh khoảng 40km về hướng Nam. Để đến với chùa Cò, từ trung tâm Tp.Trà Vinh, bạn chạy theo đường QL.54 đến với huyện Trà Cú, di chuyển tiếp về phía cảng Định An (một nhánh của sông Hậu) đến cổng chào xã Đại An, rẽ phía bên trái bạn sẽ bắt gặp cổng Chùa Cò bề thế với hoa văn, họa tiết sặc sở.

Cổng chùa được trang trí với nhiều nét hoa văn trang trí khá độc đáo và nổi bật, thu hút ánh mắt ngay từ lần đầu tham quan.
Cổng chùa được trang trí với nhiều nét hoa văn trang trí khá độc đáo và nổi bật, thu hút ánh mắt ngay từ lần đầu tham quan.

Lịch sử chùa Cò ghi lại, chùa được xây dựng từ năm 1677. Trải qua hơn 300 năm tồn tại và phát triển, chùa Cò đã được trùng tu vô số lần lớn nhỏ. Cổng chùa được trùng tu vào năm 1968 và chánh điện được trùng tu năm 1944. Sau lần trùng tu gần nhất năm 2009 và 2012, chùa được hoàn thiện đưa vào sử dụng cho tới ngày nay

Giống như những ngôi chùa Phật giáo khác trên địa bàn tỉnh Trà Vinh, Chùa Cò có quần thể kiến trúc Trà Vinh mang đặc trưng của chùa Khmer Nam Bộ. Bao gồm những công trình như cổng chùa, chánh điện, tháp đựng cốt, nhà tăng, nhà hội… được bài trí hài hòa trên một khuôn viên rộng lớn.

Khu chánh điện của chùa có lối thiết kế khá độc đáo với những mái uốn cong theo mô hình đuôi rồng, bên trên có những đỉnh tháp nhọn hình ngọn núi Xôme và những hình tượng quen thuộc với người Khmer như thần: thần bốn mặt Mohabrom, chim thần Kâyno, Riehu (Reahu), Mahaknốt…

Đến thăm chùa Cò bạn sẽ cảm thấy tâm hồn mình thư thái, tĩnh lặng, nhẹ nhàng hơn mọi vất vả, khó khăn, áp lực của cuộc sống đều tan biến hết.
Đến thăm chùa Cò bạn sẽ cảm thấy tâm hồn mình thư thái, tĩnh lặng, nhẹ nhàng hơn mọi vất vả, khó khăn, áp lực của cuộc sống đều tan biến hết.

Không gian bên trong chính điện được bài trí rất trang nghiêm, vị trí cao nhất đặt bức tượng đức Phật Thích Ca có kích thước lớn, phía dưới là các tượng nhỏ hơn.

Các vách tường trong điện được trang trí bằng nhiều bức tranh rất lộng lẫy, nhiều màu sắc, thể hiện các chủ đề Phật giáo khác nhau.

Khuôn viên chùa Cò đều được bao bọc bởi những rặng tre xanh, những hàng cây sao, sầu đâu, cây dầu, rợp bóng, xa hơn nữa là những cánh đồng lúa xanh trải dài bất tận,… Ghé thăm chùa Cò vào lúc sáng sớm hay xế chiều, du khách được tận mắt chiêm ngưỡng cảnh từng đôi, từng đàn cò sải cánh bay đi kiếm ăn và về tổ sau một ngày vất vả kiếm ăn tạo ra một khung cảnh tuyệt đẹp trên bầu trời.

Chùa Vàm Rây

Chùa Vàm Ray tọa lạc tại ấp Vàm Ray, xã Hàm Tân, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh cách thành phố Trà Vinh khoảng 35km. Du lịch Trà Vinh, để đến chùa Vàm Ray từ thành phố Trà Vinh đi theo quốc lộ 54 đến Tập Sơn rẽ trái vào quốc lộ 53 đi Trà Cú. Đi quá Trà Cú chừng 3km, qua cầu Hàm Giang, lập tức rẽ phải, vào đường nhỏ là vào đến chùa Vàm Ray.

Ngay từ ngoài nhìn vào, sự kỳ vĩ của ngôi chùa này khiến cho bất kỳ ai cũng có cảm giác choáng ngợp, như lạc vào một cung điện vàng nguy nga, rực rỡ. Màu vàng lấp lánh tỏa ra mọt nơi trong chùa từ vòm mái, tường, các cột trụ chống, đến cả những bức phù điêu, các bức tượng.

Chùa Vàm Ray mang phong cách kiến trúc Angkor, một kiến trúc đặc trưng của người Campuchia.
Chùa Vàm Ray mang phong cách kiến trúc Angkor, một kiến trúc đặc trưng của người Campuchia.

Chùa có bốn cổng và theo truyền thống của chùa Khmer, cổng chính và tòa chính điện quay về hướng Đông, tượng trưng cho con đường tu hành của Phật tử từ Tây sang Đông.

Lối vào chùa Vàm Ray là chiếc cổng hoành tráng sơn màu mạ vàng, đỉnh cổng tạo hình những ngọn tháp nhọn chất chồng nhiều tầng, ẩn mình không gian cây xanh bao quanh khiến cổng chùa càng nổi bật.

Giữa sân chùa Vàm Ray có một cột hình trụ cao vút được nâng đỡ bởi những cái cột cách điệu hình rắn thần Naga có 5 đầu, dùng để thắp nến vào những ngày lễ hội, tượng trưng cho việc Phật pháp sẽ soi sáng cho nhân loại, giúp mọi người sống hướng thiện như chính loài rắn đã được đức Phật thuần hóa theo quan niệm của người Khmer.

Bên trong chính điện được trang hoàng lộng lẫy với những bức tranh tường nhiều màu sắc, đậm chất văn hóa Khmer. Chủ để xuyên suốt của các tác phẩm là cuộc đời Đức Phật và giáo lý của nhà Phật. Không gian chính điện rộng cao thanh thoát và mát mẻ tạo sự thoải mái cho du khách khi đến tham quan cũng như các tín đồ đến hành lễ.

Cửa vào chính điện chùa Vàm Ray được chạm trổ rất công phu, tinh xảo, kết hợp giữa phong cách nghệ thuật chùa và nghệ thuật chạm khắc dân gian, tạo nên nét độc đáo cổ kính.
Cửa vào chính điện chùa Vàm Ray được chạm trổ rất công phu, tinh xảo, kết hợp giữa phong cách nghệ thuật chùa và nghệ thuật chạm khắc dân gian, tạo nên nét độc đáo cổ kính.

Nhìn chếch về hướng Đông Nam của chính điện là tượng đức Phật Thích Ca nhập Niết Bàn có chiều dài 54m được đặt trên bệ tương đương một ngôi nhà 2 tầng. Toàn bộ tượng và bệ cũng được sơn phủ sơn son thiếp vàng.

Đỉnh cao nghệ thuật của chùa Vàm Ray thể hiện ở những họa tiết độc đáo nơi mái vòm, tường, các hàng cột và cầu thang, như tượng đầu vị thánh bốn mặt Maraprum, nữ thần Kayno nửa người nửa chim, chim thần Marakrit…

Không chỉ riêng chùa Vàm Ray, mà tất cả những ngôi chùa Khmer nói chung từ ngàn đời nay vẫn luôn là trung tâm sinh hoạt văn hóa của cộng đồng dân cư trong khu vực. Từ những ngày lễ thuần túy của Phật giáo đến những ngày Lễ, hội đặc biệt của người Khmer như: ChôlChnămThmây, Sêndôlta, Okombok, Lễ dâng y…đều được diễn ra tại chùa và gắn liền với các hình thức văn hoá truyền thống của dân tộc và các trò chơi dân gian, thu hút đông đảo du khách tới tham quan.

Bảo tàng Khmer

Bảo tàng được xây dựng năm 1995, và đưa vào sử dụng năm 1997 trên diện tích 1.700 m2 trong một khuôn viên rộng 1 ha. Tòa nhà chính được xây theo kiểu kiến trúc Trà Vinh truyền thống kết hợp với kiến trúc hiện đại, gồm một trệt một lầu. Tầng trệt là văn phòng làm việc của cán bộ, nhân viên bảo tàng. Tầng trên gồm có ba phòng dùng để trưng bày gần 1.000 hiện vật, phản ánh đời sống văn hóa, vật chất tinh thần rất phong phú của dân tộc Khmer ở Nam Bộ.

Phòng đầu tiên dùng để trưng bày các hiện vật về mô hình các ngôi chùa của người Khmer, có sala dùng để các nhà sư ngồi...
Phòng đầu tiên dùng để trưng bày các hiện vật về mô hình các ngôi chùa của người Khmer, có sala dùng để các nhà sư ngồi…

Phòng thứ hai trưng bày các nông cụ và các công cụ để đánh bắt thủy sản. Ngoài ra, ở đây còn trưng bày các loại trang phục truyền thống và chữ viết của dân tộc Khmer ở Nam Bộ. Nổi bật là những văn tự cổ chứ kinh Phật, các lời huấn ca về đạo đức, lối sống và các truyện kể nhân gian,…Trong số đó, độc đáo nhất là sách viết trên lá buông và giấy xếp bằng tiếng Phạn.

Bảo tàng văn hóa dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh là nơi khách đến tham quan và nghiên cứu học tập.
Bảo tàng văn hóa dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh là nơi khách đến tham quan và nghiên cứu học tập.

Phòng thứ ba là phòng trưng bày các nhạc cụ truyền thống, các trang phục, đạo cụ, mặt nạ…Những hình ảnh trưng bày tại đây đã tái hiện hai loại hình nghệ thuật sân khấu là sân khấu Rồ-băm (kịch múa) xuất xứ từ nghệ thuật cung đình, sân khấu Dù-kê (kịch hát) ra đời trong dân gian từ đầu thế kỷ 20 và phát triển mạnh hơn từ sau năm 1945.

Các nhạc cụ của người Khmer ở đây cũng rất phong phú và đa dạng, được chia làm hai loại: dàn nhạc dân gian (nhạc dây) và dàn nhạc lễ (nhạc ngũ âm). Dàn nhạc ngũ âm được chế tác bằng năm chất liệu khác nhau gồm đồng, sắt, gỗ, da và hơi.

Chùa Ông Mẹt

Chùa Ông Mẹt tọa lạc trên đường Lê Lợi, thuộc Phường 1, ngay trung tâm thành phố Trà Vinh. Tên gọi theo Phạn ngữ của ngôi chùa này là Bodhisàlaraja, người Khmer vẫn quen gọi là Wat Kompong, dịch nghĩa là Chùa Bến.

Tên Chùa Ông Mẹt có hai cách giải thích. Cách thứ nhất là vị sư cả trụ trì ngôi chùa này trong một thời gian dài có tên là Sư Meas nên bà con phum sóc quen gọi là Wat Lụckru Meas. Người Kinh, người Hoa cứ vậy gọi theo là Chùa Ông Mẹt. Cách thứ hai là cốt tượng Phật trong chùa quá lớn, khiến cho nhiều người Khmer nhìn thấy ngạc nhiên đến thảng thốt mà buột miệng: “Mèn đéc ơi!” (Trời đất ơi!). Từ đó biến âm dần thành Chùa Ông Mẹt.

Chùa Ông Mẹt chính là trung tâm đào tạo nhiều thế hệ tăng tài, có nhiều đóng góp cho sự phát triển Phật giáo nói riêng, văn hóa dân tộc Khmer nói chung và lịch sử đấu tranh cách mạng của cộng động các dân tộc Trà Vinh.
Chùa Ông Mẹt chính là trung tâm đào tạo nhiều thế hệ tăng tài, có nhiều đóng góp cho sự phát triển Phật giáo nói riêng, văn hóa dân tộc Khmer nói chung và lịch sử đấu tranh cách mạng của cộng động các dân tộc Trà Vinh.

Là ngôi chùa lớn tọa lạc tại trung tâm tỉnh lỵ, thuận tiện giao thông cả đường bộ lẫn đường thủy với hệ thống các ngôi chùa Khmer khắp các huyện trong tỉnh cũng như các tỉnh miền Tây Nam bộ, nên chùa Ông Mẹt trở thành trung tâm Phật giáo Khmer tỉnh và hiện là nơi đặt Trường trung cấp Phật học Nam tông Khmer.

Theo truyền kể dân gian, chùa Ông Mẹt được xây dựng lần đầu tiên vào khoảng năm 642 tại khu vực gần sân vận động tỉnh Trà Vinh bây giờ. Đến khoảng năm 711, chùa mới dời về vị trí hiện nay.

Ngôi chùa gồm nhiều kiến trúc hài hòa nhau bao quanh ngôi chánh điện, trong khuôn viên rộng gần 1,3 ha có vòng tường kín bao bọc chung quanh, mặt tiền nhìn ra đường Lê Lợi ở hướng đông, đúng với tư tưởng truyền thống Phật giáo là Đức Phật ở Tây phương nhưng luôn dõi mắt về hướng đông để cứu độ chúng sinh.

Cổng chùa Ông Mẹt là một kiến trúc đẹp tại Trà Vinh với 8 trụ cột nâng đỡ mái cổng và chia cổng thành lối đi chính ở giữa rộng và hai lối đi nhỏ hơn ở hai bên. Trên đầu mỗi cột đều trang trí Chim thần Keyno hai mặt luôn tươi cười đón khách. Hai bên cổng là hai bờ tường vừa thấp dần vửa mở rộng, trang trí bởi cặp rắn bảy đầu theo phong cách nghệ thuật Khmer truyền thống.

Chánh điện chùa Ông Mẹt quay mặt về hướng đông và được xây dựng trên nền tam cấp bằng đá xanh, có hàng rào bao quanh.
Chánh điện chùa Ông Mẹt quay mặt về hướng đông và được xây dựng trên nền tam cấp bằng đá xanh, có hàng rào bao quanh.

Mái ngói ngôi chánh điện được thiết kế thành mái đứng một cấp và mái nằm hai hoặc ba cấp. Đường gờ giữa các mái ngói được trang trí thành vây lưng rồng vắt đuôi lên cao, xà đầu xuống thấp, trong khi toàn bộ những viên ngói xếp nhau trên mái tạo hình vảy rồng. Nếu từ trên cao nhìn xuống, sẽ thấy mái ngôi chánh điện chùa Ông Mẹt như một đàn rồng từ trên trời nhìn xuống bốn hướng nhân gian. Hai đầu hồi trước và sau ngôi chánh điện là hai tấm gỗ quý được chạm khắc rất công phu với nhiều hình tượng thể hiện đời sống văn hóa tâm linh của người Khmer Nam bộ.

Phía sau chánh điện là Thư viện được xây dựng vào năm 1916 với lối kiến trúc độc đáo nhà sàn gỗ truyền thống của đồng bào Khmer Nam bộ xưa. Toàn bộ 24 đầu cột, xiên tâm, xiên dọc… đều được chạm khắc công phu, sơn son thếp vàng. Thư viện có ba gian, giam giữa là nơi chứa sách, trong đó có nhiều thư tịch cổ; hai gian hai bên là nơi đọc sách, học tập của các vị sư sãi và bà con trong phum sóc.

Trong khuôn viên chùa Ông Mẹt còn có một số kiến trúc như tăng xá, Văn phòng Trị sự Phật giáo hệ phái Mahanikay, giảng đường, sala thờ Neakta, tháp tưởng niệm… Dù được xây dựng ở những giai đoạn khác nhau bằng những chất liệu khác nhau và được sử dụng vào những mục đích khác nhau nhưng những kiến trúc độc lập này tồn tại hài hòa trong một tổng thể kiến trúc Trà Vinh chung đậm đà bản sắc văn hóa của đồng bào Khmer Nam bộ.

Đền thờ Bác Hồ

Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh tọa lạc ở ấp Vĩnh Hội, xã Long Đức, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh; cách trung tâm thành phố Trà Vinh khoảng 5 km về hướng Bắc.

Ngôi đền được khởi công vào ngày 10 tháng 3 năm 1970 và khánh thành ngày 26 tháng 1 năm 1971. Khi mới xây dựng, đền có kết cấu đơn sơ bằng vật liệu tre lá, trên một diện tích 16 m², và chỉ cách một đồn quân của Việt Nam Cộng hòa vài trăm mét.

Ngày 2 tháng 9 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh (Bác Hồ) qua đời. Sau đó, Chi bộ Đảng và quân dân cách mạng ở xã Long Đức đã quyết định xây dựng một đền thờ để tưởng nhớ đến ông.
Ngày 2 tháng 9 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh (Bác Hồ) qua đời. Sau đó, Chi bộ Đảng và quân dân cách mạng ở xã Long Đức đã quyết định xây dựng một đền thờ để tưởng nhớ đến ông.

Trong chiến tranh, ngôi đền đã nhiều lần bị bom đạn của đối phương tàn phá. Đến ngày 10 tháng 3 năm 1971, thì đền bị đốt cháy. Đầu năm 1972, một số người dân Long Đức lại góp tiền của và công sức xây lại ngôi đền mới. Sau đó, đền lại bị đốt cháy mấy lần nữa, trong đó lần cuối là vào chiều ngày 9 tháng 4 năm 1975. Ngày 29 tháng 4 năm 1975 (tức chỉ trước một ngày xảy ra sự kiện 30 tháng 4 năm 1975), ngôi đền lại bị bom đạn làm hư hỏng một phần.

Sau năm 1975, đền lại được chính quyền tỉnh Trà Vinh cho trùng tu, và sau đó còn được tôn tạo nhiều lần.

Ngày 5 tháng 9 năm 1989, Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Long Đức (Trà Vinh) đã được công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia, và được chính quyền tỉnh Trà Vinh chọn làm biểu trưng của tỉnh.
Ngày 5 tháng 9 năm 1989, Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Long Đức (Trà Vinh) đã được công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia, và được chính quyền tỉnh Trà Vinh chọn làm biểu trưng của tỉnh.

Ngôi đền hiện nay có kết cấu theo kiểu hình khối vuông, nóc bánh ú, mái lợp lá, nền láng xi măng. Sau năm 1975, nơi đình tọa lạc được mở rộng 4 hecta, và lần lượt có thêm nhiều hạng mục được xây dựng như: cổng chào, nhà bao che đền thờ, nhà truyền thống, nhà trưng bày vũ khí, nhà sàn Bác Hồ (phục dựng theo nguyên mẫu nhà sàn Bác Hồ ở Hà Nội), v.v…

Hiện nay, những di vật trong đền thờ gồm có: 3 bộ lư bằng đồng, 1 lư hương, 2 lục bình bằng đồng, 5 tấm màn chắn, 2 đôn sứ hình voi, 1 chân dung Bác Hồ (chất liệu sơn dầu), 1 bộ bình trà, 2 bàn thờ gỗ khảm xà cừ, 1 tủ thờ gỗ khảm xà cừ,…

Cầu Cổ Chiên

Cầu Cổ Chiên Trà Vinh được biết đến là cây cầu quan trọng thuộc top 4 cây cầu trọng điểm trên tuyến quốc lộ 60, bên cạnh các cây cầu khác là cầu Rạch Miễu, cầu Hàm Luông và cầu Đại Ngãi.

Cầu Cổ Chiên kết nối huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre và huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh, đồng thời cây cầu nằm cách bến phà Cổ Chiên 3,6 km về phía hạ lưu.

Tổng chi phí xây dựng cầu ban đầu dự kiến lên đến 3798,4 tỷ đồng. Với 2210 tỷ đồng cho dự án thành phần 1, thực hiện theo hình thức BOT và 1588,2 tỷ đồng cho dự án thành phần 2 trích từ nguồn vốn ngân sách nhà nước.

Cầu Cổ Chiên được đánh giá là một trong bốn dự án quan trọng được ưu tiên thực hiện trong việc phát triển hệ thống hạ tầng giao thông vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Cầu Cổ Chiên được đánh giá là một trong bốn dự án quan trọng được ưu tiên thực hiện trong việc phát triển hệ thống hạ tầng giao thông vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Được khởi công xây dựng từ ngày 07 tháng 03 năm 2011. Đến ngày 16 tháng 05 năm 2015 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, lãnh đạo các Bộ, cùng lãnh đạo các tỉnh: Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long và Sóc Trăng tham dự và cắt băng khánh thành thông xe.

Chiều dài cầu cổ chiên là bao nhiêu? Cầu được xây dựng với tổng chiều dài là 1,59 km, chiều rộng cầu là 16m với tổng 4 làn xe. Ban đầu cầu được dự kiến thiết kế là dây văng ba nhịp, kết cấu tháp bằng bê tông cốt thép đổ tại chỗ có chân hẹp cao 71m, được thiết kế với 4 là xe, rộng 16m và vận tốc 80 km/h. Nhưng sau đó thì thay đổi về mặt kỹ thuật, kiểu cầu khi hoàn thiện là cầu bê tông dự ứng lực đúc hẫng. Được thiết kế bằng BTC và BTCT dự ứng lực, kết cấu nhịp chính dạng đúc hẫng cân bằng, sơ đồ nhịp (90+3×150+90)m.

Kết cấu nhịp dẫn gồm 24 nhịp dạng giản đơn dầm Super T, chiều dài nhịp 40m. Giới hạn tải của cầu là HL 93, vận tốc di chuyển 80km/h. Tĩnh không thông thuyền với chiều cao H ≥ 25,0m, chiều rộng B ≥ 120m.

Sau khi hoàn thiện, tổng số vốn đầu tư là 2308 tỷ đồng bao gồm phần cầu chính và đường dẫn dài hơn 10km do chủ đầu tư là Ban Quản lý dự án 7 của Bộ Giao thông Vận tải thực hiện.

Đây được xem là điểm kết nối quan trọng giữa quốc lộ 60 với các tuyến đường thuộc hành lang duyên hải phía đông Đồng bằng sông Cửu Long (Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng). Việc công trình hoàn thiện và thông cầu đã rút ngắn hành trình 70 km từ Trà Vinh, Sóc Trăng đến TP Hồ Chí Minh.

Nhà cổ Huỳnh Kỳ

Ngôi nhà của Đốc phủ sứ Hàm Huỳnh Kỳ được ông cho bắt đầu xây dựng từ năm 1924 theo bản thiết kế của các kiến trúc sư người Pháp. Mặc dù chịu sự tác động của văn hóa phương Tây nhưng với nề nếp của gia đình, với truyền thống văn hóa phương Đông, cho nên khi cất nhà Huỳnh Kỳ rất chú trọng đến việc chọn vị trí, chọn hướng. Ngôi nhà đủ điều kiện nhất cận thị, nhị cận giang, tam cận lộ và hướng mở cửa lấy được chính khí “Thuần Thanh”.

Mặt bằng tổng thể được phân bố như sau: Ngôi nhà chính nằm theo chiều dọc ở trung tâm, nhà sau nằm theo chiều ngang sau ngôi nhà chính và nối liền với ngôi nhà chính bằng một đường dẫn. Nhà kho nằm theo chiều dọc từ ngoài cổng nhìn vào ở phía bên trái ngôi nhà chính. Bao bọc khuôn viên ngôi nhà là hàng rào với các cổng ra vào.

Cũng như nhiều ngôi nhà dân dụng khác, nhà Huỳnh Kỳ gồm ngôi nhà chính và một số công trình khác như: rào cổng, nhà sau, nhà kho…
Cũng như nhiều ngôi nhà dân dụng khác, nhà Huỳnh Kỳ gồm ngôi nhà chính và một số công trình khác như: rào cổng, nhà sau, nhà kho…

Rào cổng được xây dựng bằng xi măng cốt thép theo kiểu thượng song hạ bảng. Trụ rào, trụ cổng làm bằng gạch, song rào, cửa cổng bằng thép. Cổng có hai cửa ra vào, một của chính một cửa phụ. Bước vào cổng là khoảng sân khá rộng sử dụng để bố trí trồng các bồn trồng hoa kiễng.

Ngôi nhà chính được xây dựng hình chữ nhật, chiều dài 20m, chiều rộng 18m, có đường nét cổ kính, với nhiều loại hoa văn, gạch, phù điêu trang trí khác nhau bên trong và bên ngoài ngôi nhà, mang dấu ấn văn hóa riêng theo phong cách trang trí tiêu biểu của kiến trúc Pháp. Bắt mắt nhất vẫn là những viên gạch men chúng gần như bền màu với thời gian.

Nội thất ngôi nhà gồm 05 gian chia làm hai phần trước và sau kiểu “ngoại khách nội hưu” bên ngoài là phòng khách bên trong là phòng nghỉ. Vách và trần nhà đều trang trí bằng những phù điêu và hoa văn với nhiều họa tiết tinh xảo. Tất cả các vật dụng như gạch lát hay các vật dụng trang trí khác đều được chuyển về từ Pháp Quốc, cho thấy rằng ngôi nhà là tiêu biểu cho lối điêu khắc và hội họa phát triển lúc bấy giờ.

Nhà cổ Cầu Kè là một minh chứng cho lịch sử phát triển kiến trúc Việt Nam, là thời kỳ chuyển tiếp giữa kiến trúc truyền thống sang kiến trúc hiện đại.
Nhà cổ Cầu Kè là một minh chứng cho lịch sử phát triển kiến trúc Việt Nam, là thời kỳ chuyển tiếp giữa kiến trúc truyền thống sang kiến trúc hiện đại.

Đặc biệt, trần của ngôi nhà không làm bằng bê tông cốt thép mà sử dụng gỗ làm khung sườn rồi dùng lưới kẽm mắc vào khung gỗ và đấp vào một hỗn hợp vôi vữa. Từ trần đến mái nhà là một khoảng không cách nhiệt có các lỗ thông gió, vì vậy luôn tạo cho ngôi nhà mát mẻ.

Ngoài giá trị về mặt kiến trúc Trà Vinh, ngôi nhà còn là một công trình đặc sắc về điêu khắc, hội họa. Các tượng, phù điêu trên mái, trên các đầu cột, vòm cửa, cửa sổ; các bức họa trên vách, trên trần; cách sử dụng gạch men với nhiều loại hoa văn để trang trí phần sảnh, vách ngoài và sàn nhà đã tạo cho công trình nét độc đáo riêng.

Ngôi nhà cũng là một chứng tích cho một giai đoạn lịch sử của vùng đất Trà Vinh nói riêng và Nam Bộ nói chung trong những thập niên đầu thế kỷ XX. Năm 2011, ngôi nhà này đã được tỉnh Trà Vinh công nhận Di tích văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật cấp tỉnh.

Thiền viện Trúc Lâm Trà Vinh

Thiền Viện Trúc Lâm Trà Vinh tọa lạc tại ấp Khoán Tiều, xã Trường Long Hòa, thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh với diện tích gần 10 ha trong quần thể Khu du lịch sinh thái rừng ngập mặn biển Ba Động.

Thiền viện Trúc Lâm Trà Vinh có các hạng mục chính như: Chính điện, nhà Tổ, lầu chuông, lầu trống, cổng tam quan, nhà nghỉ chân, tôn tượng Quan Âm lộ thiên, miếu thờ mẹ Âu Cơ, giảng đường, trai đường, nhà trụ trì, nhà khách, thư viện, Tăng xá, Ni xá, nhà trù, tháp nước,… Các công trình được bố trí hài hòa với thiên nhiên.

Thiền viện Trúc lâm Trà Vinh là ngôi thiền viện đầu tiên thuộc phái Trúc lâm Yên Tử của tỉnh Trà Vinh.
Thiền viện Trúc lâm Trà Vinh là ngôi thiền viện đầu tiên thuộc phái Trúc lâm Yên Tử của tỉnh Trà Vinh.

Toàn bộ các kiến trúc tại Thiền viện Trúc Lâm Trà Vinh được thiết kế và xây dựng theo mô hình các ngôi chùa Phật giáo Việt Nam thời Lý – Trần (thế kỷ XII đến thế kỷ XIV), mà điển hình là các mái ngói dạng hai tầng. Các đầu đao cuối mái được vuốt cong nhẹ nhàng, thể hiện tính khiêm cung, hài hòa với tự nhiên của dân tộc.

Thiền viện Trúc Lâm đang giữ nhiều kỷ lục trong số các tự viện Phật giáo trên địa bàn Trà Vinh như ngôi chùa gần biển Đông nhất, toàn bộ các kiến trúc gần với kiến trúc Trà Vinh truyền thống dân tộc nhất, ngôi Chánh điện to nhất, tượng Phật tổ to nhất, tượng Quán Thế âm to nhất, đại hồng chung lớn nhất, giảng đường có sức chứa lớn nhất, khoảng sân phía trước Chánh điện rộng lớn nhất…

Thiền Viện Trúc Lâm Trà Vinh được xây dựng với mong muốn khôi phục những giá trị văn hóa phật giáo truyền thống theo Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử của Phật hoàng Trần Nhân Tông, đồng thời tạo điều kiện cho tăng ni, phật tử hữu duyên tu thiền.
Thiền Viện Trúc Lâm Trà Vinh được xây dựng với mong muốn khôi phục những giá trị văn hóa phật giáo truyền thống theo Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử của Phật hoàng Trần Nhân Tông, đồng thời tạo điều kiện cho tăng ni, phật tử hữu duyên tu thiền.

Thiền viện Trúc lâm Trà Vinh sẽ là điểm nhấn du lịch của đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Trà Vinh nói riêng, góp phần đa dạng sản phẩm du lịch trong quần thể khu du lịch sinh thái rừng ngập mặn biển Ba Động, tạo cơ hội cho ngành du lịch Trà Vinh phát triển.

Phước Minh Cung

Phước Minh Cung tọa lạc tại số 44 đường Điện Biên Phủ, Phường 2, thành phố Trà Vinh, được xem là một công trình kiến trúc độc đáo tiêu biểu và là một “ bảo tàng mỹ thuật truyền thống” của cộng đồng người Hoa trên địa bàn Trà Vinh. Phước Minh Cung đã được xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia vào năm 2005.

Hiện nay, không còn tư liệu nào ghi chép về lịch sử ngôi chùa. Tuy nhiên, theo 2 bi ký (khắc trên gỗ và trên đá) còn lưu giữ tại chùa thì chùa Phước Minh Cung được xây dựng từ năm 1556. Tính đến nay chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu, hai lần tu bổ gần đây nhất là năm Tân Mùi 1991 và năm Canh Thìn 2000.

Không gian kiến trúc của ngôi chùa theo kiểu “ nội công ngoại quốc” truyền thống Trung Hoa. Với ba ngôi tiền điện, trung điện, chính điện theo hình chữ “Tam” và hai dãy tả điện, hữu điện hướng vào.

Phước Minh Cung thường được gọi là Chùa Ông vì vị thần chính được tôn thờ là Quan Thánh đế, tức Quan Công một nhân vật thời Tam Quốc, nổi tiếng là công minh chính trực và trí dũng song toàn.
Phước Minh Cung thường được gọi là Chùa Ông vì vị thần chính được tôn thờ là Quan Thánh đế, tức Quan Công một nhân vật thời Tam Quốc, nổi tiếng là công minh chính trực và trí dũng song toàn.

Toàn bộ công trình lợp ngói âm dương theo nhiều tầng bậc, diềm mái tráng men xanh ngọc, cột kèo làm bằng gỗ quý. Bên trong nội thất, từ khánh thờ,bàn thờ đến cửa ra vào hoành phi, liễn đối… đều được chạm khắc tinh xảo và trang trí theo mỹ thuật truyền thống Trung Hoa như lưỡng long chầu nguyệt, long phụng tranh châu, tứ linh, tứ bình, bát tiên, đào viên kết nghĩa…

Toàn bộ khung sườn chịu lực bằng những thân cột tròn và vuông to lớn, vững chắc. Từ ngoài vào trong, rường cột nào cũng được chạm trổ tinh tế bằng các họa tiết long, lân, hoa, lá. Trên các trụ rào, cổng rào cũng nổi bật nhiều tượng sư tử.

Tiền điện của Phước Minh Cung có thể nói là đặc sắc về tính mỹ thuật với 3 cửa ra vào: Chính môn, Tả môn, Hữu môn. Cửa chính hơi lùi vào trong được thiết kế theo kiểu ô hộc, phía trong 2 bên có 2 cửa phụ tạo thành “Ngũ môn kín”. Cửa chính làm bằng gỗ với 4 cánh được trang trí hình tượng hai vị môn thần Tần Thúc Bảo, Uất Trì Cung. Hai bên vách là 2 bức phù điêu Thanh long, Bạch hổ. Ở giữa bên trên là biển đại tự Phước Minh Cung cùng các mảng phù điêu với đề tài Song tiền; Kết nghĩa đào viên của ba huynh đệ Lưu Bị, Quan Công và Trương Phi; Tứ dân (sĩ, nông, công, thương); điển tích cổ Trung Quốc cùng bao lam Lưỡng phụng tranh châu. Trên các rường cột đều được chạm trổ sắc sảo họa tiết Long, Lân, hoa lá và tiểu tượng Hàn Tương Tử, Lam Thái Hòa là 2 vị tiên trong Bát tiên.

Ngoài ra, phía sau chùa (cổng sau) còn bố trí một hoa viên gồm cây cảnh, non bộ, tiểu cảnh trong thật uy nghiêm và tráng lệ.

Có thể nói Phước Minh Cung là một công trình kiến trúc Trà Vinh có giá trị nghệ thuật cao còn lưu lại ở Trà Vinh. Đó là những nét đẹp văn hóa truyền thống của cộng đồng người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long, rất xứng đáng cho khách du lịch Trà Vinh đến chiêm ngưỡng.

Hàng năm, Phước Minh Cung tổ chức các ngày lễ vía tính theo âm lịch như sau: ngày 13 tháng Giêng vía Quan Bình (con trai Quan Công), ngày 16-3 vía Châu Xương, ngày 24-6 vía Quan Đế Thánh Quân. Đặc biệt, ngày Rằm tháng Giêng, Phước Minh Cung diễn ra Lễ hội Nguyên tiêu – một lễ hội vui vẻ của cộng đồng người gốc Hoa, được xem là cái tết thứ hai trong năm của họ. Trong các ngày lễ vía này, Phước Minh Cung phục vụ miễn phí bá tánh món bún nước lèo ăn với thịt heo quay.

Blog’s Nguyễn Kiều Việt Như, tổng hợp